Thông điệp “Magnifica Humanitas” nhắc chúng ta: lao động không chỉ là sản xuất

23

Thông điệp “Magnifica Humanitas” nhắc chúng ta: lao động không chỉ là sản xuất

rtbf.be/article, Hugo Gaillard, Giảng viên cao cấp (HDR) ngành Khoa học Quản lý, Đại học Le Mans, và Pierre-Louis Boyer, Giảng viên cao cấp (HDR) ngành Lịch sử Luật và Thể chế, 2026-07-18

Trước sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo, Thông điệp “Magnifica Humanitas” nhắc chúng ta một ý niệm đôi khi bị lãng quên: lao động không chỉ là sản xuất.

Được trình bày vội vàng như một lập trường chống lại trí tuệ nhân tạo, Thông điệp Nhân loại tuyệt vời (một Thông điệp quan trọng của Giáo hoàng gởi toàn thể Giáo hội Công giáo) được ban hành tháng 5 năm 2026, là một phần của truyền thống lâu đời của Giáo hội Công giáo suy tư về ý nghĩa của lao động con người. Theo cách này, Thông điệp xem xét lại vai trò của công nghệ. 

© Ảnh chụp/Vatican Media/AFP / Đức Lêô ký thông điệp “Magnifica Humanitas”, Giáo hội xem lại sự hiểu biết về con người, công nghệ và lao động.

Thông điệp Nhân loại tuyệt vời được công bố gần đây – tháng 5 năm 2026 – vào thời điểm trí tuệ nhân tạo đưa ra các hứa hẹn và lo lắng, Thông điệp lại đưa ra một cách nhìn bất ngờ, thậm chí không lường trước được. Trí tuệ nhân tạo có thể sẽ giúp chúng ta sản xuất nhanh hơn. Nhưng liệu nó có còn tạo ra người lao động nữa không?

Đằng sau những lời hứa về tăng năng suất và tự động hóa, ít nhất một câu hỏi vẫn còn đó: công việc sẽ ra sao khi một số hoạt động trí tuệ cấu thành nên nó dần dần được giao phó cho các hệ thống nhân tạo? 

Làm việc không chỉ đơn thuần là đạt được kết quả, làm việc giúp chúng ta trải nghiệm định hình phán đoán, quyền tự chủ và quan hệ của chúng ta với người khác, cũng như với thế giới.

Một câu hỏi muôn thuở đằng sau một cuộc cách mạng mới

Các cuộc tranh luận về trí tuệ nhân tạo thường được đặt ra dưới góc độ hiệu suất: các nhiệm vụ nào có thể được tự động hóa? Chúng ta có thể kỳ vọng những lợi ích năng suất nào? Làm thế nào để tích hợp trí tuệ nhân tạo vào kinh doanh để tối ưu hóa nó? Trong hai thế kỷ qua, những đổi mới công nghệ chủ yếu được xem xét dưới góc độ tác động của chúng đến tổ chức và hiệu quả sản xuất.

Tuy nhiên, lịch sử chuyển đổi trong lao động cho thấy một chuỗi các thay đổi công nghệ đã dần dần làm thay đổi điều kiện hoạt động của con người. Thế kỷ 19 được đánh dấu bằng cơ giới hóa các cử chỉ; thế kỷ 20 bằng sự hợp lý hóa chúng. Thế kỷ 21 dường như đang hướng tới việc tự động hóa một phần các hoạt động nhận thức.

Một hình ảnh duy nhất về lao động xuyên suốt các thế kỷ

Đằng sau sự liên tục lịch sử này là một hằng số: mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều có xu hướng tái kích hoạt cùng một hình ảnh về lao động, bị thu hẹp lại chỉ còn chức năng sản xuất thuần túy. Và hơn thế, khi thu hẹp nó, chúng ta lại tăng cường nó hơn, thêm các lớp và tầng khiến nó trở nên vô hình và xa vời.

Tương tự, sự bùng nổ của các khả năng công nghệ đã bổ sung thêm một điều kiện sản xuất cho chức năng sản xuất này: tăng tốc, đến mức tốc độ và tính tức thời của sản xuất đã trở thành những từ khóa trong mô hình tư bản chủ nghĩa.

Một câu hỏi cơ bản vẫn còn đó: lao động có ý nghĩa và biểu thị điều gì đối với nhân loại? Vượt ra khỏi quan điểm hạn chế về lao động: một câu chuyện cũ.

Câu hỏi này không phải là mới với Giáo hội, vốn từ lâu đã đặt ra các điều kiện cho sự phát triển công nghệ. Ngay từ cuối thế kỷ 19, khi cuộc cách mạng công nghiệp đang làm thay đổi các mối quan hệ xã hội, Thông điệp Tân sự – Rerum novarum – đã định nghĩa lao động là “duy trì sự sống” để nó tham gia vào chính những điều kiện tồn tại của con người, vốn không chỉ đơn thuần là kinh tế.

Vài thập kỷ sau, Thông điệp “Lao động của con người – Laborem exercens” đã làm rõ hơn suy nghĩ này dưới ánh sáng của những chuyển đổi công nghệ trong thế kỷ 20, khẳng định “chắc chắn công nghệ là một đồng minh của nhân loại”, nhưng cũng nói rằng “với tư cách là chủ thể của lao động, và bất cứ công việc nào chúng ta thực hiện, con người, và chỉ riêng con người, mới là một cá nhân”.

Trái ngược với triết gia Aristotle, xem lao động là hạ thấp phẩm giá, hoặc với Paul Lafargue gần đây với Thông điệp “Quyền được lười biếng” của ông, cho rằng “lao động không chỉ là công cụ đơn thuần, nhưng còn thể hiện và củng cố phẩm giá cuộc sống chúng ta”. Liệu trí tuệ nhân tạo, bằng cách tự động hóa một phần cuộc sống con người, có thúc đẩy phẩm giá nhân loại không?

Trí tuệ nhân tạo tác động như thế nào trên công việc?

Như chúng ta đã biết, “lợi ích” của trí tuệ nhân tạo rất nhiều: giảm bớt một số công việc lặp đi lặp lại, tăng vận tốc xử lý thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho một số quy trình ra quyết định. Như thế, chắc chắn trí tuệ nhân tạo có thể giải phóng một số người lao động khỏi bị tha hóa trong lao động.

Nhưng vấn đề không còn chỉ liên quan đến việc tự động hóa một số công việc thủ công, hiện nay nó đã mở rộng sang các hoạt động truyền thống gắn liền với công việc trí óc: viết, phân tích, lựa chọn, tổng hợp và diễn giải. Nhưng một câu hỏi vẫn còn đó: công việc sẽ ra sao khi các cá nhân dần dần ủy thác một phần hoạt động nhận thức của mình vào trí tuệ nhân tạo?

Từ quan điểm ngữ nghĩa, công việc có thể được hiểu theo hai cách. Ý nghĩa thứ nhất là việc sinh nở (trong các phòng sinh, chúng ta nói về “phòng chuyển dạ”, “làm chuyển dạ”, v.v.). Ý nghĩa thứ hai đề cập đến hoạt động được thực hiện chủ yếu đáp ứng các nhu cầu cơ bản. Trong cả hai trường hợp, cuộc sống con người là trọng tâm, như thể chính thuật ngữ “công việc” không thể tách rời khỏi một phần bản chất con người, do đó khỏi các hoạt động và nhiệm vụ của con người.

Nguy cơ trí tuệ nhân tạo thay thế hành động con người không chỉ ở việc thay thế các nhiệm vụ của con người bằng các hệ thống kỹ thuật, nhưng còn ở các tác động nhân học tinh tế hơn có thể đi kèm với sự ủy thác này.

Tính phù hợp không phải là vấn đề xác suất

Công việc không chỉ đơn thuần là đạt được mục tiêu. Công việc còn góp phần hình thành khả năng phán đoán, học tập, xã hội hóa và phát triển tính tự chủ cá nhân. Tuy nhiên, các mô hình trí tuệ nhân tạo hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào các cơ chế thống kê và xác suất. Hiệu quả của chúng đến từ khả năng nhận diện các mẫu và tạo ra các phản hồi hợp lý từ lượng dữ liệu khổng lồ.

Nhưng logic này có một hạn chế: những gì có vẻ liên quan thường tương ứng với những gì có khả năng xảy ra nhất. Điều này chắc chắn dẫn đến việc nhầm lẫn giữa cái có khả năng xảy ra và cái đúng, giữa cái có thể xảy ra và cái thực tế. Với những câu hỏi như: “Cuối tháng tôi sẽ nhận lương bao nhiêu?. Tôi nên hoàn thành nhiệm vụ này như thế nào?. Tôi nên hợp tác với ai để có kết quả mong muốn.” Người lao động không mong chờ câu trả lời mang tính thống kê hay xác suất… nhưng thực tế họ sẽ nhận bao nhiêu lương, phương pháp hoặc quy trình, và tên của người liên quan. Điều tương tự cũng áp dụng cho bất kỳ câu hỏi nào: xác suất không thể thay thế sự chắc chắn của một câu trả lời.

Do đó, rủi ro không chỉ là sai sót. Nó có thể là sự chuẩn hóa dần dần các thực tiễn và lý luận, nơi hiệu quả tức thời chiếm ưu thế hơn so với diễn giải, tính sáng tạo hoặc việc vận dụng phán đoán, nơi mà dung hòa và câu trả lời tương đối chiếm ưu thế hơn so với việc theo đuổi sự chắc chắn.

Chúng ta muốn công việc tạo ra điều gì ở chúng ta thêm?

Vấn đề không phải là lên án công nghệ hay đối lập con người và trí tuệ nhân tạo một cách tiên nghiệm. Ngược lại, lịch sử cho thấy những đổi mới có thể là động lực mạnh mẽ để giải phóng. Câu hỏi cũng nằm ở một khía cạnh khác, và liên quan đến một quan điểm đạo đức (và do đó mang tính phê phán) về AI: chúng ta muốn bảo tồn những khía cạnh nào của công việc?

Câu hỏi này đặc biệt liên quan đến thế giới giáo dục. Nếu một số kỹ năng kỹ thuật trở nên tự động hóa một phần, chức năng sư phạm có thể dần chuyển sang những gì vẫn khó thay thế: hình thành phán đoán, phát triển tư duy phản biện, tạo ý nghĩa cho kiến thức và đặt việc học trong một hiểu biết rộng hơn về thực tại xã hội và con người.

Tháp Babel hay Giêrusalem?

Các cuộc tranh luận đương đại về trí tuệ nhân tạo chủ yếu tập trung vào những gì máy móc sẽ có thể làm được trong tương lai. Tuy nhiên, một câu hỏi cơ bản hơn vẫn còn bỏ ngỏ: ngoài những gì chúng ta sẽ yêu cầu máy móc, chúng ta vẫn muốn công việc tạo ra điều gì ở chúng ta?

Trong Thông điệp Nhân loại tuyệt vời, Đức Lêô XIV đã dùng hai hình ảnh trong Kinh thánh, Tháp Babel và Giêrusalem làm khuôn khổ để hiểu những biến đổi đương đại liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Hơn cả đối lập về tôn giáo, hai quan điểm này đại diện cho hai cách hình dung về việc tổ chức đời sống tập thể và, rộng hơn, về chính công việc. Thông điệp nêu rõ: “Sự lựa chọn chính không phải là giữa ‘có’ hay ‘không’ đối với công nghệ, nhưng là giữa việc xây dựng tháp Babel hay xây dựng lại Giêrusalem.”

Quan điểm thứ nhất đề cập đến logic của tháp Babel: theo đuổi hiệu quả tuyệt đối, tiêu chuẩn hóa các hoạt động, tập trung ngày càng tăng của quyền ra quyết định và logic của quyền lực. Như thông điệp của Đức Lêô đã nêu, Babel là một công trình “được duy trì bởi sự đồng nhất loại bỏ sự đa dạng” và “hy sinh phẩm giá con người cho hiệu quả.” Từ quan điểm này, giá trị của công việc có xu hướng được đo lường chủ yếu bằng tốc độ, số lượng hoặc hiệu suất của nó. Trong câu chuyện Kinh Thánh, chiều cao thẳng đứng của Tháp Babel cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của tháp.

Thông điệp nhấn mạnh tính phân bố theo chiều dọc của nhân loại bằng cách phân bổ nó trên toàn trái đất.

Ngược lại, Giêrusalem trong Kinh Thánh được mô tả như một công trình tập thể dựa trên trách nhiệm chung. Thông điệp nói lên sự tái cấu trúc của lao động phát sinh “không phải do sáng kiến của một cá nhân, mà do trách nhiệm chung của mọi người”. Lao động không chỉ được hiểu là việc tạo ra kết quả, nhưng là hoạt động mà qua đó các cá nhân tự xây dựng bản thân cùng với người khác. Ý nghĩa do đó trái ngược với ý nghĩa được truyền tải bởi tháp Babel: nhân loại trở nên thẳng đứng bằng cách thống nhất tất cả những người cấu thành nên nó.

Và bây giờ thì sao?

Thông điệp còn nhấn mạnh trí tuệ nhân tạo “không trung lập, vì nó mang hình dạng của những người thiết kế, tài trợ, điều chỉnh và sử dụng nó”. Thực tế, trong khi thừa nhận sự thiếu trung lập của công nghệ này và những tác động của nó đối với thế giới việc làm, Thông điệp không đưa ra lập trường nào về tính trung lập, làm cho thế giới việc làm cảm thấy phần nào bất an.

Nếu trí tuệ nhân tạo ngày càng trở nên quan trọng hơn trong hoạt động chuyên môn, một số câu hỏi cụ thể – thông điệp của Giáo hoàng không đề cập đến – sẽ nổi lên như những biện pháp bảo vệ tiềm năng: Làm thế nào chúng ta có thể bảo tồn những không gian thực sự để thực hiện phán đoán? Làm thế nào chúng ta có thể duy trì quyền tự chủ không chỉ mang tính hình thức? Làm thế nào chúng ta có thể bảo vệ các mối quan hệ giữa con người tại nơi làm việc khi một số tương tác bị chi phối bởi các hệ thống kỹ thuật? Làm thế nào chúng ta vẫn có thể cho phép trải nghiệm học hỏi, sự không chắc chắn và ý nghĩa? Những gì chúng ta ưu tiên cho các mục tiêu sản xuất này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến con người và con người chúng ta trở thành ngoài công việc?

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Thông điệp “Magnifica Humanitas” nhắc chúng ta: lao động không chỉ là sản xuất
Công cuộc quản trị của Đức Lêô dần hình thành với Công nghị đặc biệt lần thứ hai
Guồng máy quản trị của Đức Lêô dần hình thành với Công nghị đặc biệt lần thứ hai