Liệu tính bí mật của các cuộc bầu cử Giáo hoàng đã chấm dứt và điều này có còn quan trọng không?
belgicatho.be, Ed. Condon trên The Pillar, 2026-03-06
Liệu tính bí mật của các mật nghị bầu Giáo hoàng đã chấm dứt – và điều đó có còn quan trọng không? Hiến pháp tông đồ Universi domenici gregis
Những tiết lộ về các cuộc bầu cử Giáo hoàng có ảnh hưởng như thế nào đến luật lệ trong Giáo hội?
Quyển sách Cuộc Bầu cử Giáo hoàng Lêô vừa được xuất bản ngày chúa nhật 1 tháng 3 đã vén màn bí mật về cuộc bầu chọn ngài, kể lại việc bỏ phiếu bốn vòng để bầu Hồng y Robert Prevost kế vị Giáo Hoàng Phanxicô và quy trình bí mật được giữ kín – kể cả khoảnh khắc một hồng y lớn tuổi bị phát hiện vô tình để quên điện thoại di động trong túi trong quá trình kiểm tra an ninh trước phiên họp.
Quyển sách là tác phẩm mới nhất trong một loạt tác phẩm kể lại các cuộc thảo luận nội bộ trong quá trình bầu giáo hoàng, vốn được cho là phải được bảo vệ bởi các quy tắc bí mật pháp lý nghiêm ngặt nhất theo giáo luật.
Những báo cáo tương tự cũng đã xảy ra sau các cuộc bầu cử giáo hoàng năm 2005 và 2013, thường liên kết với các cuộc họp và kế hoạch của Nhóm Hồng y Thánh Gallen, những người được cho là đã phản đối việc bầu Đức Joseph Ratzinger làm Giáo hoàng và cuối cùng đã nỗ lực bầu Jorge Maria Bergoglio làm Giáo Hoàng Phanxicô. Tần suất xuất hiện các bản tường thuật về các cuộc bỏ phiếu của giáo hoàng mâu thuẫn với các yêu cầu pháp lý về bí mật tuyệt đối do luật giáo hội quy định, tốc độ cũng như mức độ chi tiết mà các bản tường thuật này xuất hiện sau cuộc bầu cử dường như ngày càng tăng lên.
Về phần mình, các Giáo hoàng kế nhiệm đều từ chối có bất kỳ hành động nào đáp trả, dù cảnh báo hay sửa sai cụ thể cho từng cá nhân, nói chung là nhắc lại các quy định và chế tài giáo luật hiện hành liên quan đến tính bí mật của mật nghị hồng y.
Với Đức Lêô XIV, bây giờ Giáo hội có Giáo hoàng theo chủ nghĩa giáo luật đầu tiên kể từ Thánh Phaolô VI. Nhưng liệu ngài có đứng lên chống lại “chuẩn mực mới” liên quan đến luật lệ và thực tiễn về tính bí mật sau mật nghị hồng y hay không? Và nếu ngài không làm, các tiết lộ về mật nghị hồng y sẽ có tác động như thế nào đến bầu khí tôn trọng giáo luật chung trong Giáo hội? Quyển sách mới “Cuộc Bầu cử Giáo hoàng Lêô” được hai nhà báo kỳ cựu Vatican, Gerard O’Connell và Elisabeth Pique viết, là một ấn phẩm đáng chú ý cả về tốc độ in ấn tương đối nhanh chóng – chưa đầy một năm sau mật nghị hồng y năm 2025 – và về mức độ chi tiết thường thuật kết quả cuộc bầu cử Giáo hoàng.
Theo nghĩa này, quyển sách đại diện cho một bước tiến vượt bậc trong thể loại này, vì các nguồn tư liệu cho thấy sự suy yếu ngày càng tăng về tính nghiêm ngặt, cả về mặt luật lệ liên quan đến mật nghị bầu Giáo hoàng và về văn hóa tôn trọng việc tuân thủ mật nghị. Quyển sách không phải là bằng chứng duy nhất cho xu hướng này. Trong những tuần sau mật nghị năm ngoái, truyền hình tiếng Ả Rập đã phát sóng cuộc phỏng vấn Đức Thượng phụ Chaldea Raphael Louis Sako, theo đó, ngài đã thảo luận về mật nghị và kể lại giai thoại có một lá phiếu trắng thừa đã vô tình được đưa vào một trong các vòng bỏ phiếu. Ban đầu, cuộc phỏng vấn không nhận được nhiều hưởng ứng, ít nhất là ở Rôma vì đó là một tiết lộ thẳng thắn bất thường nhưng tương đối vô hại. Tuy nhiên, minh họa cho tính chất không phổ quát của văn hóa chấp nhận sự thiếu thận trọng, đoạn văn này đã trở thành nguồn gốc của một cuộc tranh cãi gay gắt ở Iraq, nơi Hồng y địa phương bị xem là nỗi ô nhục văn hóa, vì đã vi phạm tính bí mật tuyệt đối trên lý thuyết của mật nghị.
Khi tình hình leo thang, Thượng phụ Sako đã phủ nhận toàn bộ cuộc phỏng vấn, ngài tuyên bố chưa bao giờ thực hiện cuộc phỏng vấn và kênh truyền hình thực chất đã phát sóng một thông tin bịa đặt về ngài.
Sự việc này đặc biệt minh họa cho phạm vi kỳ vọng rộng lớn về tính bí mật của mật nghị hồng y, so với trường hợp của Hồng y Antonio Tagle, trong một cuộc họp báo, ngài đã vui vẻ kể ngài đã đưa cho Giáo hoàng tương lai một viên kẹo ho trị đau họng trong lần kiểm phiếu cuối cùng để ngài có thể tuyên bố rõ ràng sự chấp thuận của mình.
Nhưng, tất nhiên, dù các hồng y khác nhau lựa chọn tuân thủ như thế nào, luật giáo hội liên quan đến mật nghị hồng y, như đã được quy định trong Hiến pháp tông đồ Universi domenici gregis, khá nghiêm ngặt.
Văn bản này, được Đức Gioan-Phaolô II ban hành và được sửa đổi đôi chút dưới thời Đức Bênêđíctô XVI, nêu rõ “nghĩa vụ phải giữ bí mật tuyệt đối về mọi thứ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình bầu cử”.
Tất cả những người tham gia mật nghị hồng y ở mọi cấp độ, từ các hồng y đến các nhân viên, trợ lý văn phòng và hành chính phải tuyên thệ giữ bí mật tuyệt đối về mọi khía cạnh của quá trình tố tụng, vĩnh viễn, trừ khi được Giáo Hoàng cho phép rõ ràng.
Văn bản Hiến pháp tông đồ, Universi domenici gregis, UDG đề xuất không ít hơn ba lời thề cho mục đích này, được thực hiện vào những thời điểm khác nhau trong quá trình tố tụng bởi những người khác nhau.
Trong một lời thề duy nhất, được thực hiện riêng lẻ của tất cả hồng y kể cả hồng y Sako và Tagle, các ngài “hứa và thề, trừ khi họ nhận được quyền hạn đặc biệt được Tân Giáo Hoàng đắc cử hoặc người kế nhiệm ngài ban rõ ràng, họ sẽ giữ bí mật tuyệt đối và vĩnh viễn với tất cả những người không phải là thành viên của Hồng y đoàn, bầu cử về tất cả các vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các lá phiếu đã bỏ và việc kiểm tra các lá phiếu để bầu chọn Giáo hoàng”. Các ngài cũng được yêu cầu tuyên bố họ thực hiện lời thề này với nhận thức đầy đủ việc vi phạm sẽ dẫn đến hình phạt tự động là vạ tuyệt thông của Tòa Thánh. Họ cũng phải tuyên thệ cá nhân khi vào Nhà nguyện Sistine, theo cách thức cụ thể, họ hứa và thề sẽ giữ bí mật tuyệt đối, với tất cả mọi người, giáo sĩ hay giáo dân, về mọi điều liên quan đến việc bầu chọn Giáo hoàng và những gì diễn ra tại nơi bầu cử, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến kết quả bỏ phiếu; họ hứa và thề sẽ không vi phạm bí mật này dưới bất cứ hình thức nào, cả trong và sau khi bầu chọn Tân Giáo hoàng, trừ khi được chính Giáo hoàng đó cho phép rõ ràng. “Mặc dù những lời thề này nêu rõ các yêu cầu cụ thể, nhưng chưa bao giờ có bất kỳ cuộc thảo luận công khai nào về vạ tuyệt thông với Hồng y Tagle hay Sako, dù là công khai hay ngầm định. Vì thế dường như Vatican không có ý định cũng như tham vọng coi trọng việc tuân thủ nghiêm ngặt các điều luật này, bất kể hậu quả tự động là gì.”
Dĩ nhiên nhiều người ở Rôma sẽ lập luận việc tìm cách áp dụng hoặc tuyên bố vạ tuyệt thông chỉ vì một câu chuyện vui về việc tặng một viên kẹo bạc hà cho Hồng y Prevost là một phản ứng quá đáng và nực cười.
Nhưng sự phản đối hiển nhiên là chúng ta chỉ có thể giữ bí mật tuyệt đối ở mức độ rất nhỏ, hoặc thậm chí rất lớn. Hoặc là được tuân thủ nghiêm ngặt hoặc không. Cho dù một số câu chuyện có vẻ vô hại, thậm chí vui vui, nhưng luật vẫn được viết ra như vậy và không phải lúc nào luật cũng được tôn trọng. Câu hỏi đặt ra rất rõ ràng: điều gì sai và cần thay đổi luật hay không?
Dù có thể được nhìn nhận một cách mơ hồ, nhưng khi nhìn lại, tính bí mật trong suốt cuộc bầu Giáo hoàng vẫn được Giáo hội công nhận là một cần thiết thực tiễn, chứ không phải là một truyền thống theo nghi thức.
Vai trò của Tòa Thánh trong các lãnh vực ngoại giao nhạy cảm nhất, đặc biệt trong các cuộc chiến ở Ukraine và Trung Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng quyết định của vị thế ngoại giao Vatican. Và, bất kể cách diễn giải nào về cán cân quyền lực và những thành công, thất bại tương đối của thỏa thuận Vatican-Trung Quốc, thực tế vẫn là Đảng Cộng sản Trung Quốc xem Giáo hội Công giáo là một thế lực đáng gờm – một thế lực cần phải bị vô hiệu hóa bất cứ khi nào có thể. Vatican rất nghiêm túc thực hiện các biện pháp chống lại sự giám sát và can thiệp trong thời gian các hồng y mật nghị và không có dấu hiệu nào cho thấy Vatican sẽ làm khác đi. Câu hỏi đặt ra là liệu các hồng y có nên tiếp tục bị ràng buộc bởi bí mật tuyệt đối một khi Tân Giáo hoàng được bầu hay không.
Chúng ta có thể hình dung những trường hợp mà điều này vẫn được cho là phù hợp, vì lợi ích của Giáo hội và sự ổn định của Giáo hoàng.
Chẳng hạn trường hợp một hồng y được bầu và từ chối nhậm chức, vì bất kỳ lý do gì. Nếu tin này lan rộng, nó sẽ tạo một làn sóng suy đoán về lý do từ chối và khả năng có âm mưu ngăn cản ngài lên ngôi giáo hoàng, cả khi ngài viện dẫn những lý do vô hại hoặc cá nhân.
Một hồng y như vậy sẽ gần như ngay lập tức trở thành điểm tham chiếu cố định và sẽ thúc đẩy các phân tích lịch sử khác nhau trong suốt triều giáo hoàng tiếp theo – càng nhiều hơn nếu ngài bị cho là có hệ tư tưởng khác với người sẽ xuất hiện ở ban công.
Tương tự, nếu một hồng y có được số phiếu cao trong các vòng bỏ phiếu đầu tiên và gần như sắp thắng cử trước khi ngài hoặc các thành viên khác của mật nghị đưa ra những lý do thuyết phục vì sao không nên bầu ngài, thì theo quan điểm chung, thông tin này nên được giữ bí mật như một biện pháp để bảo vệ sự liêm chính của hồng y.
Bản chất của quá trình bầu cử
Dĩ nhiên, không thể biết được các tình huống như vậy đã xảy ra bao nhiêu lần trong các kỳ mật nghị trước đây, hoặc ngay cả các tình huống này đã từng xảy ra hay chưa. Nhưng, trong khi vẫn còn sự đồng thuận chung rằng một số điều phải được giữ bí mật, thì họ cũng chấp nhận những điều khác như – mời dùng viên kẹo ngậm trị đau họng, những lá phiếu trắng vô tình, những chiếc điện thoại bị bỏ quên – có thể được tiết lộ.
Ranh giới giữa vô hại và nghiêm trọng dường như phụ thuộc vào phạm vi chấp nhận về mặt văn hóa: miễn là nó cho thấy Giáo hội đoàn kết đằng sau Giáo hoàng, nhân văn hóa các hồng y nhưng không làm xấu hổ cá nhân nào bằng tên tuổi, thì các câu chuyện về mật nghị dường như được chấp nhận.
Mặc dù thoạt nhìn, điều này có vẻ mô tả sự tiến hóa dần dần của các phong tục và luật lệ trong Giáo hội, nhưng cần phải xem xét các hậu quả ngắn hạn, đó là sự kiện quản trị quan trọng và dễ thấy nhất của Giáo hội, cách thức áp dụng luật lệ của mật nghị tạo ra một tiền lệ và có thể ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề giáo hội khác. Tuy nhiên, Giáo triều hoạt động và thực thi bí mật nghiêm ngặt đối với một số vấn đề nhạy cảm, cho dù đó là kỷ luật nội bộ hay quan hệ bên ngoài.
Trong một số trường hợp, điều ngược lại với các quy tắc của mật nghị lại được áp dụng: dù Đức Phanxicô đã dỡ bỏ quy định bí mật của Tòa Thánh về các phiên tòa xét xử tội lạm dụng tình dục do các giáo sĩ gây ra, Giáo hội hiếm khi thừa nhận, chứ đừng nói đến việc thảo luận, về các chi tiết cụ thể của những vụ việc này.
Những khác biệt giữa luật pháp và thực tiễn này có hậu quả rộng hơn là nuôi dưỡng một nền văn hóa chống luật lệ đặc thù trong Giáo hội, trong đó tính hợp lệ của luật pháp thực sự gắn liền với sự sẵn lòng áp dụng – hoặc không áp dụng – của chính quyền. Loại văn hóa này dẫn đến sự thái quá trong một số lãnh vực và về một số vấn đề, và sự lỏng lẻo tương đối trong các lãnh vực khác, có thể làm suy yếu tính nhất quán và uy tín của các cấu trúc quản trị Giáo hội.
Dĩ nhiên Đức Lêô có thể đã giải quyết vấn đề này theo nhiều cách, hoặc vì sự nhất quán xung quanh chính mật nghị, hoặc vì tấm gương rộng hơn mà ngài có thể nêu ra cho Giáo hội. Chẳng hạn, ngài có thể gởi thư cho Hồng y đoàn nhắc nhở về lời thề giữ bí mật mà tất cả đã tuyên thệ trong Mật nghị Hồng y, tính chất vĩnh viễn của bí mật này, và nêu rõ những trường hợp miễn trừ mà ngài đã ban (hoặc không ban) cho các nghĩa vụ này.
Một thư như vậy của ngài rất có thể sẽ khơi dậy một ý thức nghiêm túc mới nơi các hồng y mà không cần ngài phải nêu ra những ví dụ cụ thể, chứ chưa nói đến việc công khai áp dụng các biện pháp trừng phạt pháp lý.
Tất nhiên, Đức Lêô cũng có thể chọn con đường hoàn toàn khác và sửa đổi luật để nới lỏng các điều khoản liên quan đến tính bí mật của Hiến pháp tông đồ Universi domenici gregis để chỉ bao gồm các chủ đề mà ngài thực sự cho là nằm ngoài phạm vi thảo luận công khai.
Việc xây dựng ngôn ngữ pháp lý chính xác để có được ranh giới rõ ràng giữa những gì có thể và không thể được thảo luận sẽ là một thách thức thực sự cho các luật sư giáo luật. Nhưng cách tiếp cận như vậy chắc chắn có lợi thế là tập trung lại luật pháp vào những gì thiết yếu và nhận ra bản chất có hại của một văn hóa ngầm chấp thuận các vi phạm có thể bị trừng phạt bằng vạ tuyệt thông. Một lựa chọn khác, dĩ nhiên Đức Lêô XIV chỉ đơn giản để tình hình tự giải quyết mà không cần thu hút sự chú ý, giống như hai tiền nhiệm trước đây của ngài đã làm. Gần một năm sau khi được bầu và với quyển sách mới được phát hành trong tuần này, dường như khó có khả năng bất kỳ tiết lộ mới quan trọng hoặc gây sốc nào được đưa ra ánh sáng liên quan đến mật nghị năm 2025.
Có lý do Đức Lêô đã có thể cho rằng bất kỳ vi phạm nghiêm trọng nào về bí mật sẽ thuộc về những người kế nhiệm ngài và để họ giải quyết. Tuy nhiên, vì mỗi mật nghị hiện nay dường như ít bí mật hơn mật nghị trước, một giáo hoàng tương lai có thể một ngày nào đó sẽ hối tiếc về sự thiếu hành động của những tiền nhiệm của mình.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch






























