Thái độ của Giáo hội về người li dị rồi tái hôn

1445

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã có bài phỏng vấn dài trên chuyến bay từ Ciudad Juarez, Mễ Tây Cơ, về Roma, và trả lời cho hàng loạt câu hỏi thuộc nhiều vấn đề, từ Donald Trump, mối quan hệ giữa Đức Gioan Phaolô II và một phụ nữ Mỹ, cho đến cuộc gặp với Thượng phụ Kirill và các phản ứng tiêu cực từ một vài người Công giáo ở Ukraine.

America Mag | Gerard O’Connell | 18-02-2016

Một ký giả hỏi Đức Giáo hoàng:

Một vài người thắc mắc, làm sao mà giáo hội kêu gọi thương xót, lại dễ tha thứ cho một người giết người hơn là người li dị rồi tái hôn?

Pope_Francis_blesses_newly_married_couples_at_the_general_audience_in_Vatican_City_on_August_5_2015_Credit_Bohumil_Petrik_CNA_8_5_15

Và ngài trả lời:

Cha thích câu hỏi này. Hai hội đồng đã bàn về gia đình. Và giáo hoàng đã nói suốt năm qua về gia đình trong các buổi Giáo lý Tiếp kiến chung. Vấn đề này có thật, con đã nêu ra rất tốt.

Trong văn kiện hậu hội đồng, sẽ được phát hành, có lẽ là trước Phục Sinh, trong một chương nêu ra sự thật là nhiều gia đình xung đột và tổn thương. Đây là một trong những mối bận tâm. Và một việc nữa là chuẩn bị tiền hôn nhân. Nếu con nghĩ đến chuyện làm linh mục, thì con có 8 năm học hành và chuẩn bị, và rồi sau một thời gian theo học, con muốn từ bỏ, thì cứ xin về, mọi việc tốt đẹp. Nhưng còn về bí tích hôn phối, vốn là cả cuộc đời, thì lại chỉ có vài ba cuộc trò chuyện. Chuẩn bị tiền hôn nhân rất quan trọng. Đây lại là điều mà giáo hội không xem trọng, ít nhất là ở quê hương của cha, ở Mỹ La tinh, việc này không được xem trọng cho lắm.

Vài năm về trước, ở quê hương cha, có một thói gọi là ‘accasiamento de apuro’ hay cưới chạy, bởi đứa trẻ trong bụng đã lớn, và để giấu diếm về mặt xã hội, phải cưới chạy vì danh dự gia đình. Như thế, hai người không tự do. Nhiều lần, các cuộc hôn nhân như thế là vô hiệu. Là giám mục, cha cấm các linh mục chuẩn cho các cuộc hôn nhân này. Khi có những chuyện như thế, cha muốn nói rằng, cứ để đứa bé ra đời, và hai người cứ trong tình trạng đính hôn, và khi họ thấy có thể tiếp tục với nhau trọn đời, thì cứ tiếp tục và kết hôn.

Một chương nữa đáng chú ý là về giáo dục cho trẻ em, các em là nạn nhân của những vấn đề trong gia đình. Ngay cả những vấn đề mà người chồng hay người vợ đều không mong muốn. Ví dụ như, các nhu cầu của công việc. Khi người cha không có thời gian rãnh rỗi để nói chuyện với con cái, khi người mẹ không có thời gian nói chuyện với con cái.

Khi cha giải tội cho các vợ chồng, cha hỏi xem họ có bao nhiêu con? Một vài người sợ cha sẽ hỏi tại sao không sinh thêm? Rồi cha hỏi câu thứ hai: ‘Con có chơi với con cái mình không?’ Đa số nói, ‘nhưng thưa cha, con không có thời gian. Con làm việc cả ngày.’ Con cái là nạn nhân của một vấn đề xã hội gây tổn thương cho gia đình.

Đây là vấn đề …cha thích câu hỏi của con. Cha mẹ không có thời gian chơi với con cái, và con cái là nạn nhân của vấn đề xã hội này.

Một điều đáng chú ý nữa, là trong buổi gặp với các gia đình ở Tuxtla, có một cặp vợ chồng, đã kết hôn lại sau khi li dị. Họ được chung phần trong giáo hội. Từ khóa của công đồng, mà cha muốn nhắc lại, đó là ‘chung phần’ vào đời sống của giáo hội, các gia đình bị tổn thươn, những người tái hôn vv…chung phần trong giáo hội. Và không được quên các trẻ em. Các em là nạn nhân đầu tiên, cả về sự tổn thương, về tình trạng nghèo khổ, về công việc vv…

Nhưng liệu họ có được rước lễ không?

Đây là điều cuối cùng. Chung phần họ trong giáo hội, không có nghĩa là họ được rước lễ. Cha biết nhiều người Công giáo đi nhà thờ, một hay hai lần mỗi năm, và họ nói tôi muốn rước lễ, như thể rước lễ là một phần thưởng danh dự vậy.

Phải làm việc hướng đến sự chung phần, tất cả mọi cánh cửa đều mở, nhưng chúng ta không thể nói ‘từ đây họ có thể rước lễ.’ Làm như thế sẽ là tổn hại đến hôn nhân, đến cặp vợ chồng. Làm như thế sẽ không đưa họ theo con đường chung phần thực sự.