Home Blog Page 141

Vatican lên kế hoạch cho tài liệu mới về phụ nữ trong Giáo hội

Vatican lên kế hoạch cho tài liệu mới về phụ nữ trong Giáo hội

cath.ch, Raphaël Zbinden, 2024-10-03

Vấn đề địa vị của phụ nữ trong Giáo hội liên quan rất nhiều đến nền tảng của các tín hữu | Ảnh minh họa © Pixabay

Ngày thứ tư 2 tháng 10, Hồng y Victor Fernandez, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin cho biết một tài liệu huấn quyền về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội đang được chuẩn bị. Vấn đề về chức phó tế nữ cần được giải quyết.

Vai trò của phụ nữ trong Giáo hội không phải là chủ đề chính thức của Thượng Hội đồng lần này. Phiên họp lần này chủ yếu tập trung vào các phương thức quản trị trong Giáo hội, nhưng giáo dân mong chờ rất nhiều về vị trí của phụ nữ trong Giáo hội. Có lẽ để giải quyết những quan tâm này, bộ Giáo lý Đức tin đã soạn một văn bản về chủ đề này. Một sáng kiến được Hồng y Fernandez công bố trước 369 thành viên tham dự.

Hồng y Fernández cho biết các chủ đề sẽ bàn luận trong phiên họp: bản chất của quyền năng bí tích, mối quan hệ giữa quyền lực này và các thừa tác vụ trong Giáo hội, nguồn gốc của các thừa tác vụ giáo hội, các thừa tác vụ và chức năng của giáo hội không truyền chức và các vấn đề phát sinh từ việc truyền chức sai lầm.

Đức Phanxicô nói “không”

Vấn đề với chức phó tế cho phụ nữ cũng phải được xem xét trong tài liệu tương lai. Ngài cho biết lúc này ngài chưa xem xét một quyết định tích cực nào theo hướng này. Trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Mỹ CBS tháng 5 năm 2024, Đức Phanxicô đã loại trừ chức phó tế nữ, trước đó có nhiều dấu hiệu cho thấy ngài khá ủng hộ tiến trình này.

Tài liệu mới về phụ nữ sẽ được Đức Phanxicô xem xét và phê duyệt. Hồng y Fernandez không nói thêm về tiến trình của dự án này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô đưa “tội chống lại người di cư” vào giáo lý Công giáo

Thượng Hội đồng: không có chức phó tế cho phụ nữ

Thượng Hội đồng: “Từ cả ngàn năm nay, phụ nữ làm cho hàng giáo sĩ sợ”

Sau những lời của Giáo hoàng, chúng ta có nên “chôn” chức phó tế nữ không?

Thượng Hội đồng: Giáo hội xin được tha thứ bảy tội

Sau những lời của Giáo hoàng, chúng ta có nên “chôn” chức phó tế nữ không?

Sau những lời của Giáo hoàng, chúng ta có nên “chôn” chức phó tế nữ không?

cath.ch, Raphael Zbinden, 2024-05-23

Trước nhà báo Norah O’Donell (CBS), Đức Phanxicô khẳng định từ chối chức phó tế nữ | Ảnh chụp màn hình CBS

Trong một phỏng vấn gần đây với đài truyền hình Mỹ CBS, Đức Phanxicô dường như loại trừ khả năng cho phụ nữ làm phó tế. Đã có nhiều phản ứng, một số Thượng Hội đồng Quốc gia nhấn mạnh điểm này trong phiên họp tháng 10 tại Rôma.

“Không,” Đức Phanxicô đơn giản trả lời. Trong một phỏng vấn ngày 24 tháng 4 năm 2024, phát sóng vào ngày 21 tháng 5, nhà báo Mỹ Norah O’Donnell hỏi: “Liệu một bé gái công giáo ngày nay khi lớn lên sẽ có thể làm phó tế và là thành viên giáo sĩ trong Giáo hội không?” Đức Phanxicô nói rõ: “Không, nếu đó là  phó tế với chức thánh thì không (…) Nhưng phụ nữ luôn có chức năng phó tế, phụ nữ luôn phục vụ tốt đẹp trong tư cách là phụ nữ chứ không phải trong tư cách là thừa tác viên của một thứ trật thiêng liêng.”

Một gáo nước lạnh?

Nhiều người công giáo đã phản ứng mạnh, nhất là phụ nữ, họ đặt nhiều hy vọng vào cải cách này. Bà Marie-Christine Conrath, thành viên của Mạng lưới Phụ nữ trong Giáo hội, ở Thụy Sĩ vùng tiếng Pháp nói với trang Công giáo Thụy sĩ: “Tôi buồn và tức giận, đó là một thất vọng lớn lao, một lần nữa chúng tôi thấy mức độ phụ nữ không được thừa nhận trong Giáo hội lớn đến như thế nào. Khi nào Giáo hội sẽ tỉnh thức?”

Lời của Đức Phanxicô càng gây sốc hơn khi có nhiều tin đồn cho rằng ngài sẽ thuận với chức phó tế nữ. Nữ tu Linda Pocher, một trong những cố vấn chính của ngài về chủ đề này cho biết “ngài ưu ái với chức phó tế nữ”.

Bà Marie-Christine Conrath, thành viên của Mạng lưới Phụ nữ trong Giáo hội | © Bernard Hallet

Nhưng sau khi nghe kỹ cuộc phỏng vấn, các nhà quan sát thấy Đức Phanxicô không loại trừ khả năng này, nếu đó không phải là  “truyền chức”, là đưa phụ nữ vào thể chế. Một bước đi không làm hài lòng cho những ai muốn có một vị trí công bằng cho phụ nữ trong Giáo hội. Bà Marie-Christine Conrath bảo đảm: “Nếu sự phát triển một tổ chức dành cho phụ nữ được xác nhận, chúng tôi sẽ chấp nhận vì chắc chắn mọi thứ đang tiến triển theo từng bước nhỏ”. Nhưng đây là những bước chậm. Các nhà lãnh đạo Giáo hội không nhận ra vai trò “hạng hai” mà họ dành cho phụ nữ đã gây tổn thương cho phụ nữ đến như thế nào. Chúng tôi cảm thấy chúng tôi chỉ có thể im lặng, phục tùng, dù chúng tôi đã làm rất nhiều việc.”

Không “gia ân” cho chức phó tế nữ 

Bà Claire Jonard, điều phối viên tại Thượng Hội đồng tháng 10 năm 2023 nghĩ rằng Đức Phanxicô đã có thể vạch ra một “con đường thứ ba” cho chức phó tế nữ, không cần phải chịu chức: “Vấn đề về chức phó tế nữ đã có trong các báo cáo của Hội đồng Giám mục của nhiều quốc gia gởi về Rôma. Trường hợp Thụy Sĩ, tài liệu này kêu gọi đừng bằng lòng chức phó tế ‘gia ân’.” Trong bối cảnh Thụy Sĩ, một hình thức đặc biệt của chức phó tế ‘dành cho phụ nữ’ sẽ bị cho là chuyện xuống cấp phụ nữ như việc phân cấp chức phó tế liên quan đến thừa tác vụ chịu chức” (thư gởi Vatican tháng 5-2024).

Đức Phanxicô gắn kết với tầm nhìn thể chế được chia theo chiều kích ‘Phêrô’ và ‘Maria’

Chức phó tế nữ là chủ đề được được tranh luận nhiều nhất ở Thượng Hội đồng, phản ánh toàn cầu này là để Giáo hội tham gia và đón nhận nhiều hơn, ít tập trung hơn, ít mang tính giáo sĩ hơn. Trong lần họp tháng 10 năm 2023, các thành viên kêu gọi “tiếp tục nghiên cứu thần học” đặc biệt dựa trên kết quả của các ủy ban do Giáo hoàng thành lập năm 2016 và sau đó là năm 2020.

Mặc dù kết luận về công việc của họ chưa bao giờ được công khai, nhưng theo nguồn tin của I.Media (từ Vatican), chúng tôi biết công việc của ủy ban thứ hai – có các thành viên bị ràng buộc với bí mật giáo hoàng – đã được đệ trình lên Giáo hoàng cuối năm 2022. Trong tài liệu tóm tắt tháng 10, Thượng Hội đồng yêu cầu trình bày kết quả này tại phiên họp tiếp theo, cho rằng dự án này do đó có thể được tiến hành.

Theo Truyền thống hay theo Giáo hội nguyên thủy?

Tuy nhiên, Thượng Hội đồng bị chia rẽ giữa những người cho rằng chức phó tế nữ sẽ “không thể chấp nhận vì không liên tục với Truyền thống”, hoặc những người cho rằng như thế “thiết lập lại cách làm của Giáo hội nguyên thủy”.

Bà Claire Jonard trách nhiệm ở Trung tâm Hướng nghiệp | © Maurice Page

Nếu các sử gia đồng ý về sự hiện diện của các nữ phó tế trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, thì có hai cách tiếp cận đối lập nhau liên quan đến bản chất của việc truyền chức cho nữ phó tế. Cách thứ nhất là họ được truyền chức bằng việc đặt tay và nghi thức này có chiều kích bí tích. Cách thứ hai ngược lại, chức phó tế nữ không bao giờ có thể tương đương với chức phó tế nam, đó không phải là một bí tích nhưng là một thừa tác vụ được thiết lập – như các mục vụ ngày nay, giáo lý viên hoặc người đọc sách, được mở ra cho giáo dân.

Một cuộc phỏng vấn không phải là một văn bản có tính giáo huấn

Vấn đề về tính hợp pháp của chức phó tế nữ được đặt chồng lên vấn đề bản chất của Giáo hội. Đức Phanxicô gắn kết tầm nhìn thể chế chia theo chiều kích ‘Phêrô’ và ‘Maria’. Một ý tưởng được thần học gia Thụy Sĩ Urs von Balthasar (1905-1988) khai triển, ngài có ảnh hưởng trên Giáo hoàng. Chiều kích Phêrô là tông truyền do các giám mục lãnh đạo, và chiều kích Maria là khía cạnh nữ tính của Giáo hội. Một khái niệm bị nhiều nhà quan sát chỉ trích vì lỗi thời và khái quát hóa. Lời “không” của Đức Phanxicô có xu hướng xác nhận ngài muốn bám vào đường nét khái quát của Truyền thống hơn là tiến tới những thay đổi lớn.

“Liệu chúng ta có thể hướng đến một ‘giải pháp phù hợp’ với những vấn đề nhạy cảm khác nhau của Giáo hội không?”

Như thế cuộc phỏng vấn của CBS dứt khoát “chôn vùi” ý tưởng về chức phó tế nữ, hay chúng ta vẫn có thể mong chờ một thay đổi? Bà Claire Jonard nhớ lại: “Đức Phanxicô sẽ là người đưa ra quyết định cuối cùng. Nhưng chúng ta phải nhớ, cuộc phỏng vấn không phải là một văn bản huấn quyền. Nó không xác nhận bất kỳ quyết định nào. Tôi nghĩ chúng ta phải chờ kết thúc tiến trình Thượng Hội đồng để biết ý kiến dứt khoát về việc này.” 

Hướng tới một chức phó tế theo “hình học biến thiên”?

Không phải là không thể xảy ra như trường hợp của tuyên bố Fiducia supplicans (tháng 12 năm 2023, cho phép chúc phúc cho các cẵp vợ chồng bất hợp lệ), đã có ảnh hưởng đến Giáo hoàng trong vấn đề chức phó tế nữ. Những phản ứng cực kỳ gay gắt theo sau tài liệu đã làm cho ngài phải tìm một thỏa hiệp, cho phép các giám mục Châu Phi không áp dụng văn bản. Đức Phanxicô có bị “cháy” vì kinh nghiệm không tốt này nên quyết định tạt một gáo nước lạnh vào những cải cách của mình không?

Vì thế liệu chúng ta có thể tiến tới, như với việc chúc lành cho các cặp đồng tính, hướng tới một “giải pháp riêng” cho những nhạy cảm khác nhau của Giáo hội không? Ý tưởng này đã được nữ thần học gia Mỹ Phyllis Zagano đưa ra. Bà bảo đảm chức phó tế nữ “chỉ là vấn đề thời gian”, bà nghĩ, nếu không chấp nhận một cách rõ ràng các nữ phó tế, thì Giáo hoàng có thể thiết lập một tình huống trong đó giáo phận có thể phong phó tế cho phụ nữ, sau đó họ sẽ được Vatican xác nhận. 

“Những lời của Đức Phanxicô có thể tạo gián đoạn trong cuộc bỏ phiếu của Thượng Hội đồng” Claire Jonard

Bà Helena Jeppesen, đại biểu Thụy Sĩ tại Thượng Hội đồng kêu gọi các giáo phận trong nước tự mình hành động: “Họ phải khẩn cấp giới thiệu những gì có thể làm trong phụng vụ mà không cần thánh hiến: rửa tội, cử hành Lời Chúa kèm rước lễ, giảng lễ.” Theo bà, chính hành động thực tế tại chỗ, ngoài sự hợp tác ở cấp Thượng Hội đồng Thế giới sẽ có ảnh hưởng và thay đổi Giáo hội, có lẽ thay đổi cả thần học”. 

Rắc rối về Thượng Hội đồng

Tuy nhiên, về mặt nội dung, hình thức can thiệp của Đức Phanxicô cũng đặt ra nhiều câu hỏi. Bà Claire Jonard thừa nhận: “Tôi không thể hiểu được ý nghĩa này. Có phải ngài muốn khơi dậy cuộc tranh luận về chủ đề này không? Tôi nghĩ dù sao điều này sẽ không làm cho việc đọc tiến trình Thượng Hội đồng trở nên rõ ràng hơn. Chức phó tế nữ là vấn đề được nhiều báo cáo quốc gia đưa vào chương trình nghị sự, dù sao nó sẽ được thảo luận và đưa vào Tài liệu Làm việc. Lời nói của Giáo hoàng chắc chắn có thể làm gián đoạn việc bỏ phiếu.”

Bà Marie-Christine Conrath cũng bối rối, dù bà bảo đảm bà sẽ tiếp tục tham gia Thượng Hội đồng, nhưng tình tiết mới này đã làm cho niềm tin của bà vào tiến trình này bị lung lay: “Nếu mục tiêu là lắng nghe lẫn nhau, nhưng cuối cùng chúng ta không nghe phụ nữ, như vậy tất cả những điều này mang lại ý nghĩa gì?”

Marta An Nguyễn dịch

Thượng Hội đồng: Giáo hội xin được tha thứ bảy tội

Vatican lên kế hoạch cho tài liệu mới về phụ nữ trong Giáo hội

Đức Phanxicô đưa “tội chống lại người di cư” vào giáo lý Công giáo

Thượng Hội đồng: không có chức phó tế cho phụ nữ

Thượng Hội đồng: “Từ cả ngàn năm nay, phụ nữ làm cho hàng giáo sĩ sợ”

Thượng Hội đồng: không có chức phó tế cho phụ nữ

Thượng Hội đồng: không có chức phó tế cho phụ nữ

Viễn cảnh mở chức phó tế cho phụ nữ thường thấy trong hành trình Thượng Hội đồng này nhưng không thành công. Phản ứng của thần học gia Anne-Marie Pelletier.

lavie.fr, Anne-Marie Pelletier, 2024-09-25

Hình ảnh / JULIEN DANIEL/MYOP

Đây là một bất ngờ hạnh phúc. Khi kết thúc các cuộc tham vấn quốc gia chuẩn bị cho Thượng Hội đồng năm 2023, có vẻ như vị trí của phụ nữ trong Giáo hội không chỉ là mối quan tâm chung mà còn là ưu tiên trên phạm vi toàn cầu. Vấn đề về chức phó tế nữ được đưa ra một cách quyết liệt. Vì thế không chỉ có yêu cầu của các phụ nữ kitô giáo ở rừng già Amazon đã khơi lại chủ đề này trong Thượng hội đồng năm 2019. Lòng tin tưởng rất mạnh, hy vọng vấn đề này cuối cùng sẽ được giải quyết.

Mệt mỏi! Kể từ đó thất vọng nhân lên! Chủ đề này đã biến mất khỏi chương trình của phiên họp lần thứ nhì của Thượng Hội đồng: không có trong các chủ đề của 10 nhóm nghiên cứu được thành lập để hỗ trợ và kéo dài Thượng Hội đồng cho đến năm 2025. Cuối cùng, khi đài truyền hình Mỹ CBS phỏng vấn Đức Phanxicô tháng 5 năm 2024, ngài đã phản đối việc phong chức phó tế nữ. Bất chấp công việc của Thượng Hội đồng, vấn đề đã được giải quyết. Không có các nữ phó tế nào chịu trách nhiệm trả lời cho công việc này.

Mâu thuẫn khó chịu

Cú sốc thật nặng nề, nỗi thất vọng thật lớn lao. “Phụ nữ luôn có chức năng nữ phó tế nhưng không phải là phó tế,” là lời phản đối đau lòng trong cuộc phỏng vấn. Nói cách khác, phụ nữ bằng lòng với công việc phục vụ. Hiển nhiên họ luôn làm ở mọi nơi, hy sinh không mệt mỏi, để Giáo hội hoàn thành sứ mệnh của mình.

Nhưng làm sao chúng ta không ngạc nhiên khi nói đến chức phó tế nam vĩnh viễn được Công đồng Vatican II tái lập, văn bản công đồng (Ad gentes, 16) giải thích phó tế cần ân sủng bí tích để có thể triển khai đầy đủ sứ mệnh của mình? Liệu phụ nữ có thực hiện được chức vụ phó tế mà không cần đến ân sủng này không?

Sự mâu thuẫn đáng xấu hổ

Sự thật, dù được tách ra một cách rõ ràng khỏi chương trình giảng dạy của linh mục, chức phó tế nam vĩnh viễn vẫn gắn liền với địa vị linh mục và chủ nghĩa độc quyền nam giới. Ít nhất là trong tâm trí của những người từ chối chức phó tế nữ. Đặc biệt vì phó tế được quyền phục vụ bàn thờ, được giảng lễ, cũng như cử hành một số bí tích như rửa tội, chủ tế hôn phối. Tất cả những điều có thể tăng thêm sức nặng cho chức phó tế mà phụ nữ đã thực hiện, nhưng chính xác là chúng ta có ý định để ngoài tầm với của họ.

Thực ra, việc phong chức phó tế nữ sẽ buộc chúng ta đặt câu hỏi kỹ hơn một chút về cơ cấu thể chế, nền tảng của thể chế vẫn là chức linh mục được truyền chức cho người nam độc thân. Đây thực sự là điểm phản kháng bị ẩn giấu dưới sự phản đối cho rằng trong tất cả những điều này, đó sẽ là cuộc đấu tranh giành quyền lực của phụ nữ mà họ được giải thích sẽ chỉ là giáo sĩ hóa họ.

Thật đau khổ khi đối thoại với những người khiếm thính. Làm thế nào để họ có thể hiểu chính đời sống Giáo hội trong chiều kích trọn vẹn nam tính và nữ tính đang bị đe dọa? Làm thế nào để họ hiểu đây không phải là vấn đề quyền lực hay muốn được công nhận, nhưng cơ bản là sứ mệnh Giáo hội, để ân sủng của cuộc đời Chúa Kitô đến với thế giới, thông qua mọi hình thức gần gũi đương thời mà phụ nữ kitô giáo dự phần vào nhiệm vụ phục vụ? Trên thực tế, chính vì cuộc tranh luận chạm đến chiều sâu này mà nó tiếp tục bị đình trệ trong 50 năm bất chấp vô số công trình học thuật, những trao đổi trái ngược nhau, cho đến hai ủy ban do Đức Phanxicô triệu tập liên tiếp.

Sự trì hoãn này sẽ cảnh báo chúng ta. Trong một số trường hợp, chúng ta đã gần đạt được quyết định tích cực nhưng lại bị né tránh. Bất chấp tất cả, câu hỏi vẫn mở, không thể giải quyết được, như thể chúng ta đang đứng trên bờ vực thẳm. Tuyên bố gần đây của Giáo hoàng dường như muốn nói mọi sự đã làm xong. Nhưng hiện nay, về đời sống kitô giáo nữ tính, có rượu mới, thứ mà chúng ta phải hy vọng cuối cùng sẽ làm vỡ bầu da cũ.

Marta An Nguyễn dịch

Thượng Hội đồng: “Từ cả ngàn năm nay, phụ nữ làm cho hàng giáo sĩ sợ”

Sau những lời của Giáo hoàng, chúng ta có nên “chôn” chức phó tế nữ không?

Thượng Hội đồng: Giáo hội xin được tha thứ bảy tội

Vatican lên kế hoạch cho tài liệu mới về phụ nữ trong Giáo hội

Đức Phanxicô đưa “tội chống lại người di cư” vào giáo lý Công giáo

Đức Phanxicô đưa “tội chống lại người di cư” vào giáo lý Công giáo  

Đức Phanxicô đưa “tội chống lại người di cư” vào giáo lý Công giáo

 Trong buổi cầu nguyện sám hối ở Rôma ngày thứ ba 1 tháng 10, Đức Phanxicô đã đưa bảy tội mới vào giáo lý công giáo, trong đó có “tội chống lại người di cư”.

frontieresmedia.fr, Emmanuel de Gestas, 2024-10-02

Phản đối việc nhập cư hoặc người di cư có làm chúng ta thành kẻ có tội không? Trong buổi lễ sám hối ở Rôma ngày thứ ba 1 tháng 10, Đức Phanxicô đã đưa bảy tội mới vào giáo lý công giáo, nhà báo Jean-Marie Guénois của Le Figaro giải thích.

Để mở đầu phiên họp lần thứ nhì của Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, Đức Phanxicô đã cử hành nghi thức sám hối tối thứ ba 1 tháng 10, ngài xin được tha thứ cho bảy tội này.

Tội chống lại người di cư

Bảy Hồng y lần lượt đọc bảy tội: tội chống lại hòa bình, tội chống lại tạo vật, chống lại người dân bản địa, chống lại người di cư, tội lạm dụng, tội chống lại phụ nữ, gia đình, giới trẻ, tội dùng học thuyết làm viên đá để ném, tội chống lại nghèo đói, tội chống lại tính đồng nghị, thiếu lắng nghe, thiếu hiệp thông, thiếu tham gia của tất cả mọi người.

Hồng y Canada Michael Czerny, nổi tiếng với quan điểm tiến bộ, đọc văn bản của Đức Phanxicô viết về tội chống người di cư: “Tôi xấu hổ xin được tha thứ vì đã tham gia vào quá trình toàn cầu hóa với thái độ thờ ơ trước những thảm kịch đang biến các tuyến đường biển và biên giới giữa các quốc gia từ con đường hy vọng thành con đường chết chóc cho rất nhiều người di cư. Giá trị của con người luôn lớn hơn biên giới.”

Đức Phanxicô biến vấn đề di cư thành một trong những ưu tiên hàng đầu của ngài, ngài chỉ trích các chính phủ bảo thủ ở Đông Âu như Hungary của Viktor Orbán, phản đối vấn đề nhập cư, ngài nói đó là ích kỷ và không phải là người tín hữu kitô tốt.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Thượng Hội đồng: không có chức phó tế cho phụ nữ

Thượng Hội đồng: “Từ cả ngàn năm nay, phụ nữ làm cho hàng giáo sĩ sợ”

Sau những lời của Giáo hoàng, chúng ta có nên “chôn” chức phó tế nữ không?

Thượng Hội đồng: Giáo hội xin được tha thứ bảy tội

Vatican lên kế hoạch cho tài liệu mới về phụ nữ trong Giáo hội

Thượng Hội đồng: Giáo hội xin được tha thứ bảy tội

Thượng Hội đồng: Giáo hội xin được tha thứ bảy tội

Trong lễ sám hối khai mạc phiên họp lần thứ nhì Thượng Hội đồng về Tương lai của Giáo hội, các hồng y đã xin được tha thứ cho bảy tội bất thường. Tội chống lại hòa bình, chống phụ nữ, chống học thuyết…

la-croix.com, Christel Juquois, 2024-10-02

Thượng Hội đồng: bảy tội mà Giáo hội xin tha thứ là những tội nào?

Đức Phanxicô trong buổi cầu nguyện tại Đền thờ Thánh Phêrô trước khi bắt đầu phiên họp Thượng Hội đồng ngày thứ ba 1 tháng 10 năm 2024. Alessandra Tarantino / AP

Sau hai ngày tĩnh tâm, phiên họp lần thứ nhì của Thượng Hội đồng “vì một Giáo hội mang tính đồng nghị hơn” đã khai mạc bằng một buổi lễ sám hối bất thường. Bảy hồng y lần lượt cầu xin tha thứ cho bảy “tội” khác với các tội trong bảy mối tội đầu. Đó là những tội nào?

1. Tội chống lại hòa bình

Hồng y Oswald Gracias, Tổng Giám mục Bombay (Ấn Độ) mở đầu với lời xin tha thứ “vì thiếu can đảm, lòng can đảm cần thiết trong việc tìm kiếm hòa bình giữa các dân tộc và các quốc gia”. Hồng y ca ngợi lòng can đảm của “cuộc gặp gỡ”, “tôn trọng các hiệp ước”, “chân thành” cũng như lòng can đảm cần có để nhìn nhận “phẩm giá vô hạn của mọi sự sống con người trong mọi giai đoạn đời sống”, ngay cả trong nhu cầu vật chất cơ bản: “Quyền có việc làm, đất đai, nhà ở, gia đình, cộng đồng để sống tự do. Tội của chúng ta còn nặng hơn nếu chúng ta kêu cầu danh Chúa để biện minh cho chiến tranh và sự phân biệt đối xử.”

2. Tội chống lại tạo vật, chống lại người dân bản địa, chống lại người di cư

Hồng y Michael Czerny, Bộ trưởng Bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện xin tha thứ vì: “Những gì chúng ta làm biến đổi tạo vật từ khu vườn thành sa mạc, thao túng theo ý muốn của chúng ta. Tội bóc lột này làm suy yếu phẩm giá con người. Xin tha thứ cho các hệ thống ủng hộ chế độ nô lệ và chủ nghĩa thực dân, cho việc toàn cầu hóa đã thờ ơ trước những thảm kịch mà ngày nay ảnh hưởng đến rất nhiều người di cư. Tôi nghe thấy tiếng Chúa hỏi tất cả chúng ta: ‘Anh chị em của con ở đâu?’ Xin Chúa tha thứ cho chúng con.”

3. Tội lạm dụng

Hồng y Sean Patrick O’Malley, Tổng giám mục giáo phận Boston (Hoa Kỳ), nhậm chức năm 2003 ở một giáo phận bị các vụ lạm dụng tác động sâu sắc. Ngài cầu xin tha thứ cho tất cả các hình thức lạm dụng, đặc biệt là “lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, đã cướp đi sự trong trắng và xúc phạm đến sự thánh thiện của những người yếu đuối, những người không có khả năng tự vệ, trong suốt thời gian qua chúng ta đã dùng địa vị của chức vụ và đời sống thánh hiến để phạm tội khủng khiếp này”.

Buổi cầu nguyện tại Đền thờ Thánh Phêrô trước khi bắt đầu phiên họp Thượng Hội đồng ngày thứ ba 1 tháng 10 năm 2024. Alessandra Tarantino / AP

4. Tội chống lại phụ nữ, gia đình, giới trẻ

Hồng y Kevin Joseph Farrell, Bộ trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống xin tha thứ: “Thay mặt cho tất cả các thành viên của Giáo hội, đặc biệt là nam giới chúng tôi, chúng tôi đã có một khinh thường với phẩm giá phụ nữ, bằng cách làm cho họ trở nên ‘câm lặng và phục tùng’. Giáo hội đôi khi bỏ bê nhu cầu của các gia đình, phán xét và lên án họ hơn là quan tâm đến họ. Đôi khi chúng tôi đã ‘đánh cắp niềm hy vọng và tình yêu của người trẻ khi chúng tôi chưa hiểu được giá trị của tình yêu và niềm hy vọng’. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những người phạm sai lầm và những người bị bỏ rơi vào tù hoặc bị án tử hình.

5. Tội dùng học thuyết làm viên đá để ném

Hồng y Víctor Manuel Fernández, Bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin lấy làm tiếc về cách sử dụng sai trái giáo lý của Giáo hội. Ngài xin tha thứ: “Mục tử chúng tôi có trách nhiệm củng cố đức tin cho giáo dân nhưng chúng tôi đã không biết cách bảo vệ và cống hiến Tin Mừng như nguồn sống của sự mới mẻ vĩnh cửu. Chúng tôi xin được tha thứ cho những lần mà học thuyết đã biện minh cho sự đối xử vô nhân đạo hoặc đã cản trở các văn hóa hợp pháp khác nhau về sự thật của Chúa Giêsu Kitô, tạo khó khăn cho tình huynh đệ đích thực của toàn thể nhân loại.”

6. Tội chống lại nghèo đói

Hồng y Cristóbal Lopez Romero, Tổng giám mục giáo phận Rabat (Morocco) xin được tha thứ vì chúng tôi đã lấy bánh của người nghèo đói: “Chúng tôi xấu hổ vì chúng tôi trì trệ, chúng tôi  không chấp nhận lời kêu gọi một Giáo hội nghèo cho người nghèo, chính chúng tôi cũng khó để nhận tội này, với những quyến rũ của quyền lực, chúng tôi thích ở những vị trí đầu tiên, thích có những chức tước phù phiếm, thích đến những nơi bệnh hoạn để tự khen nhau, tất cả đã hạn chế chúng tôi hướng tới các vùng ngoại vi thân yêu của Đức Phanxicô.

7. Tội chống lại tính đồng nghị, thiếu lắng nghe, thiếu hiệp thông, thiếu tham gia của tất cả mọi người

Cuối cùng, Hồng y Christoph Schưnborn, Tổng Giám mục Vienna (Áo) đề cập đến tinh thần cần thiết để có thể có đồng nghị thực sự. Hồng y xin tha thứ: “Vì những trở ngại chúng tôi đã đặt ra trong việc xây dựng một Giáo hội thực sự có tính đồng nghị, hòa mình, ý thức mình là dân thánh của Thiên Chúa cùng nhau bước đi, nhìn nhận phẩm giá rửa tội chung của nhau. Tôi xấu hổ về những lần chúng tôi đã không lắng nghe Chúa Thánh Thần, chỉ thích nghe chính mình (…), vì tất cả những lần chúng tôi đã biến quyền hành thành quyền lực, bóp nghẹt tính đa nguyên.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Vatican lên kế hoạch cho tài liệu mới về phụ nữ trong Giáo hội

Đức Phanxicô đưa “tội chống lại người di cư” vào giáo lý Công giáo

Thượng Hội đồng: không có chức phó tế cho phụ nữ

Thượng Hội đồng: “Từ cả ngàn năm nay, phụ nữ làm cho hàng giáo sĩ sợ”

Sau những lời của Giáo hoàng, chúng ta có nên “chôn” chức phó tế nữ không?

Danh sách các thành viên dự phiên họp Thượng Hội đồng lần thứ nhì

Danh sách các thành viên dự phiên họp Thượng Hội đồng lần thứ nhì

fr.aleteia.org, Valdemar de Vaux, 2024-09-30

Hình ảnh phiên họp Thượng Hội đồng / Antoine Mekary | Aleteia

Thượng Hội đồng về tính đồng nghị bắt đầu năm 2021 đã ở dạng một cuộc cách mạng nhỏ. Trong số 368 thành viên sẽ gặp nhau trong phiên họp thứ nhì của Thượng Hội đồng từ ngày 2 đến ngày 27 tháng 10 có 272 giám mục và 96 người “không phải giám mục”. Trên thế giới, Giáo hội có hơn 5.300 giám mục cho 1,375 tỷ giáo dân công giáo.

96 người này một nửa là giáo dân (41), phần lớn là các linh mục và tu sĩ nam nữ, họ là trọng tâm các cuộc thảo luận để hiểu rõ hơn sự đóng góp của họ vào đời sống và các quyết định của Giáo hội (53) trong đó có 25 nữ tu, ngồi quanh các bàn trong Hội trường Phaolô VI. Hầu hết họ được các Hội đồng Lục địa chọn, mỗi Hội đồng cử chín hoặc mười đại diện đến Rôma với tư cách là “nhân chứng cho tiến trình Thượng Hội đồng”.

28% thành viên Châu Âu

Sự đa dạng về mặt địa lý của Giáo hội cũng là một khía cạnh trong việc phân bổ các giám mục được các Hội đồng Giám mục chọn dù tỷ lệ đôi khi đi chệch khỏi thực tế của Giáo hội. Châu Âu có 21% người công giáo chiếm 28% số giám mục được chọn, 50% thành viên được Giáo hoàng hoặc 21 người đứng đầu Giáo triều chỉ định, với sự hiện diện mạnh mẽ của người Ý. Người Mỹ, từ miền Bắc và miền Nam, có ít đại diện trong số các giám mục (27%) so với 48% tín hữu công giáo trên lục địa này. Tuy nhiên, Châu Phi, Châu Á và Châu Đại Dương có tỷ lệ gần với tầm ảnh hưởng hiện tại của họ trong Giáo hội.

Kể từ phiên họp đầu tiên, chỉ có 26 thay đổi trong danh sách thành viên, thường là thay thế vì mong muốn của Đức Phanxicô, người thích nói “thời gian vượt trội hơn không gian” là có thể có được từ phiên họp cuối cùng. Mong muốn của ngài được thể hiện qua 57 người do chính ngài chỉ định: Hồng y Müller, một người hoài nghi Thượng Hội đồng cùng ở bên cạnh với các nhân vật gần với tầm nhìn mục vụ của Đức Phanxicô như Hồng y Pháp Jean-Marc Aveline, Tổng giám mục McElroy của San Diego Mỹ, linh mục thần học gia Ý Joseph Bonfrate, Tổng giám mục tổng tường trình Jean-Claude Hollerich của Luxembourg, hay linh mục người Mỹ James Martin.

Nhiều tu sĩ Dòng Tên

Tổng giám mục Jean-Claude Hollerich, linh mục James Martin là tu sĩ Dòng Tên, Linh mục Arturo Sosa, Bề trên Tổng quyền Dòng Tên, linh mục Costa, thư ký đặc biệt của Thượng Hội đồng. hượng hội đồng. Trong số các chuyên gia có 24 tu sĩ Dòng Tên, 6 tu sĩ Đa Minh. Việc “đối thoại thiêng liêng” do Đức Phanxicô tiến hành là di sản của linh đạo I-Nhã.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Vì sao Vua Baudoin có thể là thánh?

Vì sao Vua Baudoin có thể là thánh?

Theo linh đạo Mẹ Maria, Vua Baudoin nước Bỉ trung thành với Giáo hội. Sau chuyến tông du Bỉ từ ngày 26 đến 29 tháng 9 năm 2024, Đức Phanxicô lên chương trình phong chân phước cho Nhà Vua có cuộc đời cống hiến trọn vẹn cho đức tin, người thoái vị ba ngày để không ký luật phá thai khi chính phủ tiến hành thủ tục để ban hành luật này.

Chân dung Vua Baudouin nước Bỉ | PD

acistampa.com, Andrea Gagliarducci, 2024-10-01

Người dân Bỉ nói phép lạ lớn nhất của Vua Baudoin là ông đã tìm được bà Fabiola, người vợ có cùng đức tin công giáo với ông. Năm ba mươi tuổi, ông xin Đức Mẹ Lộ Đức giúp ông vì đã 30 tuổi mà chưa kết hôn.

Nhà Vua và Hoàng hậu Fabiola đến Loreto khi luật hợp pháp hóa việc phá thai được ký nhưng ông không muốn ký, ông tìm đến Đức Mẹ để cầu nguyện. Ông ngưng quyền làm vua ba ngày, thời gian chính phủ ban hành luật cho phép phá thai. Một luật ông không bao giờ muốn ban hành.

Trong chuyến đi Bỉ, Đức Phanxicô đã đến Laeken để cầu nguyện trước mộ Nhà Vua. Ngài nhắc lại quan điểm của ngài về việc phá thai và trong ngày cuối cùng ở Bỉ, ngài tuyên bố sẽ mở thủ tục phong chân phước, Trong cuộc họp báo trên máy bay từ Bỉ về Rôma ngày chúa nhật 29 tháng 9, ngài nói với các nhà báo về tấm gương và chứng từ cuộc đời thánh thiện của Nhà Vua.

Sức khỏe của Nhà Vua ngày càng xấu đi, ông phải mổ tim năm 1991 và 1992. Ông phát biểu trước quốc dân ngày 21 tháng 7 năm 1993, trước khi đến Montril, Tây Ban Nha để nghỉ ngơi, ông qua đời ngày tại đây ngày 31 tháng 7 vì một cơn đau tim, thọ 63 tuổi.

Danh tiếng thánh thiện của Nhà Vua rất lớn, đến mức Đức Gioan-Phaolô II muốn đến thăm mộ Nhà Vua trong chuyến tông du Benelux năm 1995,  ngài nói Nhà Vua là “người bảo vệ nhân quyền”. Vào lúc đó đã có dư luận về án phong chân phước sẽ bắt đầu nhưng đã không tiến hành. Sau chuyến đi Bỉ, Đức Phanxicô quyết định phong chân phước cho Nhà Vua.

Chứng từ thánh thiện của Vua Baudoin nhiều đến mức ngay khi vua Baudoin qua đời(1930-1993) người dân Bỉ đã xin phong thánh ngay lập tức “Santo Subito”.

Nhưng vì sao Vua Baudoin là một vị thánh? Vì có rất nhiều chứng từ, tất cả đều đồng ý Vua Baudoin là người phi thường, quan tâm đến người khác, có đức tin mãnh liệt, đến mức chúng ta sẽ không hiểu Nhà Vua nếu không biết đến sự kết hiệp của Nhà Vua với Chúa. Một kết hiệp sớm có khi mẹ của Nhà Vua là bà Astrid qua đời trong một vụ tai nạn xe hơi mà người cha là Vua Leopold III có liên quan. Nhà Vua bắt đầu tìm hiểu về thế giới bên kia. Đức tin của Nhà Vua không có từ nhỏ. Vấn đề tôn giáo không được đề cập nhiều ở Cung điện Hoàng gia.

Vua Baudoin là người công giáo ham học hỏi, tìm hiểu sâu về đạo và người dự Bí tích Thánh Thể mỗi ngày. Đời sống thánh thiện của Nhà Vua và Hoàng hậu được nhà văn  Bernadette Chovelon giải thích với trang Aleteia: “Mỗi ngày hai người cùng nhau cầu nguyện, cùng đi lễ. Khi ra nước ngoài, ở những quốc gia Nhà Vua đến thăm, chương trình khi nào cũng có giờ đi lễ, ở Liên Xô họ gặp khó khăn vì khó tìm nhà thờ công giáo dưới các tượng đài của Stalin và Lênin! Bí tích Thánh Thể là lương thực “đi đường” của họ.

Nhà Vua làm vua khi 15 tuổi sau khi Vua cha thoái vị, người dân Bỉ mong muốn trở lại chế độ quân chủ, và chính đức tin của Nhà Vua đã giữ vững ông.

Nhà Vua thường đi ra ngoài một mình, kín đáo thăm người đang hấp hối trong bệnh viện. Nguồn gốc lòng nhân đạo phi thường của Nhà Vua nằm ở đức tin công giáo, một số người chỉ trích ông nhầm lẫn ngai vàng với bàn thờ, nhưng Nhà Vua phân biệt lãnh vực riêng tư và nghĩa vụ công cộng của ông. Nhưng đức tin của ông được mọi người biết đến, chiếu sáng và tác động trên các hành động của ông.

“Bí mật” của Vua Baudouin hay đức tin của Nhà Vua – như Hồng y Suenens Danneels đã gọi sau khi ông qua đời – đã đưa ông đối diện vấn đề lương tâm đánh dấu triều đại của ông: theo ông, về mặt đạo đức ông không thể ký luật hợp pháp hóa một phần việc phá thai năm 1990. Hành vi này ghi dấu ấn sâu sắc với người dân Bỉ và cả bên ngoài nước Bỉ, đã làm mọi người kính trọng ông. Nhà Vua đã phân biệt rõ ràng: nếu lương tâm tuyệt đối cấm ông ký luật, đến mức tính đến việc thoái vị, thì ông không muốn cản trở quá trình dân chủ đang diễn ra dưới bất kỳ hình thức nào.

Marta An Nguyễn dịch

Tại Rôma, Thượng Hội đồng nữ tính nhất trong lịch sử bắt đầu “vòng” nhì

Tại Rôma, Thượng Hội đồng nữ tính nhất trong lịch sử bắt đầu “vòng” nhì

Phiên họp lần thứ hai của Thượng Hội đồng về tương lai của Giáo hội sẽ khai mạc ngày thứ tư  2 tháng 10, có khoảng năm mươi phụ nữ tham gia với quyền bỏ phiếu, một dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng vị trí của họ trong Giáo hội. Tuy nhiên, các vùng tối vẫn còn trong các vấn đề cụ thể của trao đổi

la-croix.com, Mikael Corre và Malo Tresca 2024-10-01

Khoảng 50 phụ nữ tham gia phiên họp lần thứ hai của Thượng Hội đồng về tương lai của Giáo hội khai mạc sáng thứ tư 2 tháng 10 tại Vatican Alessia GiulianiI / IPA/Sipa USA/Reuters

Đây là biểu tượng của một cuộc cách mạng nhỏ. Trong bức hình ngày 19 tháng 10 năm 2023, khoảng 60 phụ nữ vẫy tay từ bậc thang của một cầu thang kiểu la-mã. Tất cả đều tham gia vào phiên họp đầu tiên được tổ chức tại Vatican về “Thượng Hội đồng về tính đồng nghị”, cuộc tham vấn toàn cầu rộng lớn này đã được Đức Phanxicô phát động tháng 10 năm 2021 để suy nghĩ về tương lai của Giáo hội. Hiện có 53 phụ nữ về lại Rôma để dự phiên họp lần thứ nhì kéo dài một tháng, bắt đầu ngày thứ tư 2 tháng 10.

Lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội công giáo, các “nghị mẫu” là nữ tu hay giáo dân sẽ được bỏ phiếu như các giám mục (chiếm 75%) trong hội đồng có 368 thành viên. Để đạt được sự cởi mở này, dù chưa bình đẳng, phụ nữ cần khẳng định mình là một trong những chủ đề chính của tiến trình đồng nghị. Nhìn lại ba năm tranh luận.

Tham vấn quốc gia

Ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại hội trường Lyon. Tổng giám mục Éric de Moulins-Beaufort, chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp, giải thích: “Anh chị em thân mến, trên màn hình trước mặt anh chị em là văn bản các giám mục chúng tôi vừa bỏ phiếu (…) sau khi đã bỏ văn bản ban đầu”. Giống như các nơi khác trên thế giới, kể từ tháng 10 năm 2021, các giám mục ghi lại nguyện vọng của gần 150.000 giáo dân Pháp về tương lai của Giáo hội qua 48 câu hỏi.

Tại Lyon, các giám mục đã có những sửa đổi với bản tóm tắt các câu trả lời nhưng cuối cùng họ quyết định không sửa đổi và gởi về Rôma. Một nữ giáo dân cho biết: “Chúng tôi cảm nhận chúng tôi được lắng nghe, đây là cơ hội để bày tỏ những vết thương sâu sắc liên quan đến các tình huống bị loại trừ, về chức phó tế nữ, về việc có những nơi không cho các cô gái giúp lễ dù đã được Giáo hội cho từ năm 1994. Đó là những vấn đề chính vẫn còn trong chương trình của phiên họp này.”

Bản tóm tắt nguyện vọng của giáo dân Pháp có các chủ đề khác như: “Những khó khăn trong giao tiếp với các linh mục và giám mục, sự mất cân đối giữa số lượng phụ nữ tham gia vào Giáo hội và những người có quyền quyết định… Tinh thần phục vụ của phụ nữ được đánh giá cao nhưng tiếng nói của họ dường như bị phớt lờ. Cách thức đối xử với phụ nữ trong Giáo hội không được Giáo hội điều chỉnh theo sứ mạng ở thời điểm mà bình đẳng giữa nam và nữ đã trở nên hiển nhiên. Vì thế Giáo hội tự bỏ đi vô số đặc sủng và khả năng để ra khỏi tình trạng giáo sĩ trị.” Những kết luận này đã gây được tiếng vang rộng rãi trong Giáo hội, không chỉ ở phương Tây.

“Giai đoạn lục địa”

Praha, ngày 8 tháng 2 năm 2023. Thần học gia Baptist người Pháp Valérie Duval-Poujol phát biểu ở một khách sạn thủ đô Séc: “Nếu Giáo hội là một thân thể theo hình ảnh trong Kinh Thánh thì trong nhiều giáo phái kitô giáo, thân thể này bị tê liệt, bị liệt nửa người vì chúng ta tước đi một nửa ân sủng của các thành viên: phụ nữ.” Hội đồng các Giáo hội Châu Âu (CEC) mời bà đến nói chuyện với 200 đại diện công giáo – các hồng y, giám mục, linh mục, nữ tu, giáo dân nam nữ đến từ khắp Châu Âu để tham gia vào phiên họp lục địa chưa từng có này.

Thần học gia Baptist người Pháp Valérie Duval-Poujol

Bà khẳng định: “Sự tham gia của phụ nữ là một vấn đề lớn của phiên họp ở Praha, chúng tôi mong muốn giảm bớt các khía cạnh của hệ thống cấp bậc và chủ nghĩa giáo quyền trong Giáo hội…  Việc dựa vào phản hồi từ thực địa đã mang lại tính hợp pháp mạnh mẽ cho các cuộc thảo luận. Không có lễ rửa tội màu xanh cho con trai và màu hồng cho con gái! Chỉ có một lễ rửa tội!”

Được chính thức hóa trong “tài liệu tạm thời” đầu tiên – trước khi được tranh luận kín giữa các giám mục – những kỳ vọng bày tỏ ở Praha đã làm nảy sinh những điểm xung đột, giữa các tầm nhìn đôi khi hoàn toàn trái ngược nhau. Trước các phản đối của các Giáo hội Đông phương, một số tiếng nói của “khối Tây phương lấy làm tiếc cuộc tranh luận đã không tiến xa hơn – đặc biệt là về việc truyền chức linh mục cho phụ nữ -, sau những đề xuất của “con đường Thượng Hội đồng Đức”.

Phiên họp đầu tiên của Thượng Hội đồng ở Rôma

Trong Hội trường Phaolô VI vào ngày 4 tháng 10 năm 2023, một số người tham dự tỏ ra bối rối. Đức Phanxicô đã mời 96 người không phải giám mục, trong đó có 54 phụ nữ. Một người tham dự cho biết: “Với một số giám mục từ các quốc gia ở Nam Bán cầu, nơi phụ nữ không được bình đẳng như ở Châu Âu, đây là lần đầu tiên họ thấy mình trao đổi một cách bình đẳng với một phụ nữ ở bàn ăn.” Tháng 10 năm 2023, một giám mục trả lời phỏng vấn: “Chúng tôi không nói giống nhau khi có phụ nữ trong nhóm.”

Phụ nữ trong Thượng Hội đồng tháng 10-2023

Theo hai nguồn tin, với ngày tháng trôi qua, sự khác biệt về thứ bậc đã ít rõ ràng, một số hồng y và giám mục chỉ mặc áo linh mục thường. Quá tập trung vào việc chia sẻ kinh nghiệm cá nhân – làm cho các thần học gia có mặt khó chịu –, một số chứng từ của phụ nữ đã được hoan nghênh như lời của một phụ nữ người Mỹ gốc Ba Lan có người chị tự tử vì cảm thấy mình tội lỗi vì mình là người đồng tính nữ.

Theo thông tin của báo La Croix, một cuộc họp kín đáo lẽ ra sẽ quy tụ hầu hết phụ nữ sẽ được tổ chức ở Rôma vào cuối kỳ họp, các “nghị mẫu” sẽ thảo luận về việc họ tham dự vào Thượng Hội đồng rất lịch sử này nhưng sẽ không thực hiện được vì có những bất đồng”

Một số người muốn công khai bày tỏ lòng biết ơn của họ với Giáo hội về lời mời tham dự nhưng cũng có những người muốn tận dụng văn bản dự kiến này để hỗ trợ một số yêu cầu nhất định, đặc biệt họ muốn có một vị trí lớn hơn cho phụ nữ trong các vị trí chịu trách nhiệm trong Giáo hội: “Cũng có lo ngại cho cách tiếp cận này sẽ bị cho là ‘một thượng hội đồng nhỏ trong thượng hội đồng”, bà lấy làm tiếc vì đã “bỏ lỡ cơ hội”.

Một vài ngày trước đó, những người tham gia đã tranh luận về chức phó tế nữ. Nếu việc đề cập đến chủ đề này cách đây vài năm là không thể tưởng tượng – nếu có một hoặc hai giám chức đi xa đến mức nói về các nữ linh mục – thì sẽ gặp sự phản đối cứng rắn của nhiều hồng y và giám mục.

Hiện diện trong phiên họp, Đức Phanxicô lắng nghe và ghi chép. Một trong những bài phát biểu hiếm hoi của ngài đã được Tòa Thánh công khai: ngài chỉ trích thái độ “trọng nam và độc tài” của một số linh mục bị ảnh hưởng của “chủ nghĩa giáo quyền”, ngài nhắc lại – như ngài đã nhắc trong chuyến đi Bỉ từ ngày 27 đến 29 tháng 9 – “nữ tính” là đặc tính của Giáo hội.

Trích thư Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Êphêsô (Êp 5:27), từ đó nảy sinh ra một nền thần học đã được ba giáo hoàng tiền nhiệm của ngài tiếp thu. Đức Bênêđíctô XVI viết năm 2006: “Mọi sự trong Giáo hội, mọi tổ chức và thừa tác vụ, kể cả thừa tác vụ Thánh Phêrô và những người kế vị đều được áo choàng của Đức Trinh Nữ che chở, trong không gian tràn đầy ân sủng của hai chữ “xin vâng” của Mẹ”. Ngày 28 tháng 9, tại trường đại học nói tiếng Pháp Louvain-la-Neuve, gần Brussels, quan điểm này là nguồn gốc của tranh cãi vì các sinh viên công giáo tại đây cho rằng ngài theo chủ nghĩa bản chất, phân biệt giới tính.

Danh sách các thành viên dự phiên họp Thượng Hội đồng lần thứ nhì

Trong báo cáo tóm tắt kỳ họp tháng 10 năm 2023, có một chương nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đấu tranh chống phân biệt đối xử với phụ nữ, mở rộng trách nhiệm của họ và áp dụng ngôn ngữ hòa nhập hơn. “Việc nghiên cứu thần học và mục vụ về khả năng tiếp cận chức phó tế nữ phải được các ủy ban thần học của Đức Phanxicô thành lập nghiên cứu. Một cách để loại chủ đề này ra khỏi các tranh luận của phiên họp lần thứ nhì này?” Một nguồn tin ở Vatican khẳng định: “Không,” đồng thời nhấn mạnh cần phát triển hơn nữa, chức phó tế nam chủ yếu vẫn được phát triển ở Châu Âu.

Nhiều câu hỏi liên quan đến vị trí phụ nữ vẫn còn ở trong chương trình làm việc của các cuộc tranh luận sắp tới. Tài liệu làm việc của phiên họp công bố ngày 9 tháng 7 năm 2024 đề cập đến các vị trí trách nhiệm của phụ nữ trong các giáo xứ, giáo phận và các thực thể khác của Giáo hội, kể cả trách nhiệm mục vụ và các hình thức mục vụ khác.

Tuy nhiên theo một quan sát viên ở Rôma, không nên mong chờ nhiều: “Nguyên tắc quan trọng nhất của Giáo hội là sự hiệp nhất. Vì vậy, như trong bất kỳ tranh luận nào thuộc loại này, các thành viên có khuynh hướng đồng thuận để kết thúc với một văn bản nhẹ nhàng về những câu hỏi có thể gây chia rẽ, như vấn đề phụ nữ.” Kết thúc phiên họp vẫn là quyết định của Đức Phanxicô. Theo truyền thống, một tông huấn sẽ được công bố vài tháng sau khi kết thúc các tranh luận để nói lên những gì Giáo hội giữ lại từ những tranh luận này. Một số người cho rằng có thể dùng báo cáo tóm tắt này cho tương lai, vì báo cáo này có thẩm quyền. Chắc chắn một quyết định sẽ mang tính đồng nghị nhưng nhiều người không tin.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Suy niệm ngày tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Phép lạ mẻ cá”

Suy niệm ngày tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Phép lạ mẻ cá”

Ngày thứ ba 1 tháng 10, Linh mục Timothy Radcliffe cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh giảng bài suy niệm thứ ba về “Phép lạ mẻ cá” theo Tin Mừng Thánh Gioan.

vaticannews.va, Linh mục Timothy Radcliffe, 2024-10-01

Ngày tĩnh tâm của Thượng Hội đồng Giám mục tại Vatican  1 tháng10 năm 2024. (ANSA)

Đêm đó, họ không có gì cả.” Trước phục sinh luôn là bóng tối. Với bà Maria Mácđala, Chúa phục sinh trong bóng tối của sự thiếu hiểu biết của bà. Chúa ở đó, Chúa chờ đợi. Với các tông đồ trong phòng đóng kín, đó là bóng tối của nỗi sợ. Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết ngày chúa nhật Phục Sinh, Ngài chiến thắng màn đêm, nhưng chúng ta, hết lần này qua lần khác, chúng ta ở trong bóng tối. Bóng tối của chiến tranh, của cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục, của rất nhiều chuyện…v.v.

Màn đêm bao phủ các ngư phủ này là gì? Chúng ta về lại với thế giới bình thường của chúng ta. Thánh Phêrô nói: “Tôi đi câu cá.” Họ trở lại với nhịp sống cũ. Gần như không có chuyện gì xảy ra ở Giêrusalem. Lưới của họ trống rỗng. Họ trống rỗng. Người lạ hỏi họ có gì ăn không. Tất cả trả lời “không”. Tiếng hy lạp là Ou. Tiếng này cũng trống rỗng như họ. Ou! Những người đánh cá này không bắt được một con cá nào.

Chúng ta tất cả đều có những lúc dường như không làm được gì. Nhiệt tình ban đầu đã phai nhạt. Khi bắt đầu phiên họp Thượng hội đồng lần thứ nhì, tôi cá một số người cũng cảm thấy như vậy. Những người hăng hái khi bắt đầu, họ tự hỏi liệu chúng ta có đi đến đâu không. Dù sao thì một số người trong chúng ta cũng chưa bao giờ tin vào điều đó. Đúng! Câu hỏi tôi nhận được nhiều nhất trong 11 tháng vừa qua mang tính hoài nghi: đã đạt được điều gì chưa? Đây có phải là cả một lãng phí thì giờ và tiền bạc sao?

Nhưng người lạ đã ở đó trên bãi biển trước khi họ nhận ra. Chúa luôn ở đó trước khi chúng ta nhận ra Ngài. Trong phần mở đầu của Luật Thánh Biển Đức, Thiên Chúa nói: “Mắt Ta hướng về các con và tai Ta lắng nghe lời cầu nguyện của các con. Và trước khi các con gọi, Ta đã nói: Ta đây.” Chúa chờ đợi, ngay cả trước khi chúng ta cầu nguyện. Nhưng vì sao họ không nhận ra Ngài? Anh chị em có thể nghĩ đây là một trong những vấn đề khó hiểu mà các học giả thích viết các bài khó hiểu, nhưng nó có liên quan sâu sắc đến chúng ta trong Thượng Hội đồng này. Làm sao chúng ta có thể nhận ra Chúa đang ở với chúng ta hôm nay, Đấng có thể chúng ta chưa thấy?

Không phải vì Ngài trông khác biệt. Không, đó là vì họ chưa bao giờ thực sự nhìn thấy Ngài trước đây. Linh mục dòng Đa Minh Herbert McCabe đã nói rất hay: “Người ta không chỉ nhận ra Chúa Giêsu là người mà họ biết đã bị giết. Họ nhận ra Ngài là người họ đã biết và nghĩ rằng họ biết, nhưng thực sự cho đến bây giờ họ vẫn chưa biết.” Ngài là mầu nhiệm của Tình yêu nhập thể và họ chỉ mới bắt đầu thoáng nhìn thấy chiều cao và chiều sâu của tình yêu vượt quá mọi hiểu biết. Chính người môn đệ Chúa yêu đã nói: “Chúa đó” vì người môn đệ này có đôi mắt của tình yêu. Các thần học gia thời kỳ đầu thường hỏi vì sao Chúa Giêsu không hiện ra với kẻ thù của Ngài như Quan Philatô. Ngài có thể thoắt biến thoắt hiện trước mặt Philatô mà ông vẫn không thể thấy Ngài. Tình yêu là một từ lớn lên, ý nghĩa của nó thay đổi và phát triển. Khi còn nhỏ, chúng ta nghĩ đến tình yêu của mẹ khi mẹ cho chúng ta ăn, mẹ không bao giờ để chúng ta một mình. Khi lớn lên, chúng ta hiểu đôi khi tình yêu cần phải vắng mặt hoặc từ chối không cho mình những gì mình muốn, như cho chiếc iPhone chẳng hạn.

Linh mục Timothy Radcliffe, Dòng Đa Minh

Năm 2012, linh mục Dòng Đa Minh người Pháp Jean-Joseph Lataste đã được phong chân phước, đài BBC nói “được tô điểm”! Năm 1864 cuộc đời ngài đã thay đổi khi ngài đến thăm nhà tù phụ nữ. Hầu hết các cô là gái mại dâm hoặc đã phạm tội giết trẻ sơ sinh. Ngài nhìn họ và nói: “Chị em của tôi.” Ngài thành lập Hội dòng các nữ tu sống chung với các phụ nữ khác. Nhiều nhà trưởng giả mộ đạo bực mình. Họ chưa học được cách nhìn tình yêu bằng hành động. Họ không nhận ra người lạ trên bãi biển.

Các học giả Kinh Thánh dành hàng giờ im lặng trong thư viện để nghiên cứu những ngôn ngữ tối nghĩa và đã chết. Một số người có thể cho rằng như thế là phí thì giờ, nhưng đó cũng là một hành động yêu thương. Chúng ta không gặp nhau trong Thượng hội đồng để bàn các thỏa hiệp hoặc tấn công đối thủ. Chúng ta ở đây để học lẫn nhau ý nghĩa của từ “tình yêu” kỳ lạ này. Mỗi chúng ta đều là người môn đệ yêu dấu, người có ơn đặc biệt là nhìn thấy người lạ trên bãi biển và nói: “Chúa đó”.

Bước ngoặt là họ nghe lời người này và quăng lưới sang bờ bên kia. Có vẻ là vô ích. Họ là những người rành câu cá. Vì sao phải nghe người đàn ông lạ không biết gì về câu cá này? Chúng ta đến Thượng hội đồng này vì vâng phục. Với nhiều người, chuyện này có vẻ vô ích. Chúng ta đã làm việc cả ngày cả đêm và có lẽ cũng đã nghi ngờ e chẳng được điều gì. Nhưng Giáo hội nói: hãy đến và chúng ta đã đến. Chúng ta thả lưới ở phía bên kia thuyền, mặc dù một số người trong chúng ta nghĩ rằng sẽ không có cá. Nhưng hành vi vâng lời này có thể mang lại kết quả theo những cách mà chúng ta không thể tưởng tượng được.

Ở đây chúng ta có được điều bí ẩn lớn: 153 con cá lớn. Tôi có thể làm quý vị chán cả giờ với tất cả những lời giải thích hay ho và đôi khi vô lý về con số này.

Tại sao 153? Một số người nói chắc chắn phải có 153. Nhưng quý vị tưởng tượng làm sao đếm chúng khi chúng nhảy tung tứ phía. Có người nói đó là 153 nhà thờ có thể đã có vào thời điểm đó. Những người khác nói có 153 quốc gia đã được biết đến. Điều này rõ ràng mang ý nghĩa phong phú. Sự quan phòng dồi dào của Thiên Chúa đang hoạt động. Thánh Gioan Henry Newman mô tả sự quan phòng là “công việc thầm lặng của Thiên Chúa”. Tài Liệu Làm Việc mở đầu bằng câu của tiên tri Isaia: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is, 25,6).

Nước Trời đến đời sống chúng ta một cách vui vẻ, dư thừa, giống như tất cả rượu ở bữa tiệc Cana. Sau khi đi giảng về, Thánh Đa Minh trở về tu viện của các nữ tu ở Rôma vào đêm khuya. Ngài đánh thức các nữ tu dậy để kể cho họ nghe bài giảng của ngài. Ngài xin họ  rượu. Họ chỉ có một ít. Các nữ tu mang đến cho ngài một cái ly, ngài chuyền cho các nữ tu và nói: uống đi, Bibite satis, uống đủ rồi. Và cái ly không bao giờ cạn.

Chúng ta phải dám tin sự quan phòng của Thiên Chúa sẽ ban ơn dồi dào cho Thượng Hội đồng này, “Ngài sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn” (Lc 6:38). Chúng ta đến đây không phải để ăn  bữa ăn đạm bạc nhưng ăn một bữa ăn ngon của Vương quốc, nếu chúng ta khao khát đủ.

Ngay lập tức Thánh Phêrô biến đổi. Khi bắt đầu, ngài trống rỗng, ngài rơi vào cuộc sống cũ. Cứ như thể không có chuyện gì xảy ra. Bây giờ ngài đứng dậy, mặc quần áo trước khi nhảy xuống biển, khi đi bơi chúng ta thường cởi quần áo, nhưng mặc quần áo là dấu hiệu của phẩm giá mới được tìm thấy, giống như người cha mặc áo mới cho người con hoang đàng khi người con về nhà. Dù xấu hổ trước mặt Chúa, ông vẫn bơi về phía Ngài. Tôi sẽ xấu hổ, tôi sẽ bơi ngược lại. Các môn đệ khác khó quăng lưới lại. Phêrô làm một mình. Bí mật của Phêrô là gì? Bất cứ điều gì ngài làm, ngài sẽ quay trở lại với Chúa nhiều lần. Tình yêu của ngài mạnh hơn xấu hổ.

Chúa Giêsu nói: “Khi tôi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12.32). Bây giờ chúng ta thấy Phêrô kéo mẻ lưới đầy cá lớn và lưới không bị rách. Không phải nhờ sức mạnh của ông, nhưng nhờ sự hợp tác của ông với sức hút của Chúa, sức hút từ tính của Chúa Phục sinh. Chính Chúa đã đem chiếc lưới còn nguyên vào đất liền. Sứ vụ hiệp nhất của Phêrô không phải là chăm sóc những đứa con hư mất của Thiên Chúa, nhưng để thấy sự cuốn hút của Chúa, Đấng gắn kết chúng ta lại với nhau.

Năm ngoái khi đến với Thượng Hội đồng, tôi nghĩ thách thức lớn nhất là vượt qua sự đối lập gay gắt giữa người theo chủ nghĩa truyền thống và người cấp tiến. Làm thế nào chúng ta có thể chữa lành sự phân cực quá lớn này? Nhưng khi tôi lắng nghe, tôi thấy dường như còn có một thách thức cơ bản hơn: làm thế nào Giáo hội có thể đón nhận tất cả các văn hóa đa dạng của thế giới chúng ta? Làm thế nào chúng ta có thể kéo lưới với những con cá của tất cả các nền văn hóa trên thế giới? Làm thế nào để lưới không bị rách?

Khi Bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989, Chiến tranh Lạnh được cho là đã kết thúc. Tác giả Francis Fukuyama xuất bản quyển sách Hồi cuối của lịch sử và người cuối cùng (The End of a story and the Last Man) khẳng định chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thắng lợi của nền dân chủ tự do phương Tây. Mọi quốc gia dường như đều được định sẵn để “tiến hóa” theo lối sống phương Tây.

Một số quốc gia, đặc biệt ở Nam bán cầu đi sau. Đó là ảo tưởng mà phương Tây đang dần thức tỉnh. Thay vào đó, chúng ta sống trong một thế giới đa cực, trong đó nhiều người ở Nam bán cầu xem phương Tây là suy đồi và diệt vong. Chúng ta đang sống trong một thế giới hậu phương Tây. Nhiều người phương Tây vẫn chưa nhận ra điều này. Chúng ta chờ một Hiện Xuống mới trong đó mỗi văn hóa nói tiếng mẹ đẻ của mình và mọi người hiểu nhau. Đây cũng là nhiệm vụ của chúng ta trong Thượng Hội đồng và là nền tảng cho sứ mệnh của chúng ta trong thế giới bị chia rẽ và rách nát này. Chúng ta xin Đức Mẹ gỡ nút thắt, Thánh Phêrô người vá lưới cầu bàu!

Đầu tiên, nếu chúng ta muốn trở thành người công giáo, chúng ta phải nhận ra chúng ta cần có nhau. Các văn hóa đa dạng quy tụ trong Thượng hội đồng này chữa lành cho nhau, thách thức thành kiến của nhau và kêu gọi người khác hiểu biết sâu sắc hơn về tình yêu. Mọi nền văn hóa đều có cách nhìn người lạ trên bãi biển và nói “đó là Chúa”.

Đức Bênêđíctô XVI đã thú nhận phương Tây vướng phải “một dạng bệnh tâm thần”, điều mà Thánh Gioan Phaolô II gọi là “văn hóa của sự chết”. Hoặc chúng ta trốn cái chết và giả vờ như nó sẽ không bao giờ đến, hoặc chúng ta tìm cách kiểm soát nó bằng cách hỗ trợ cái chết. Giống như Thánh Phêrô, người phương Tây chúng ta cần được giúp đỡ để nhìn thấy Chúa phục sinh trên bờ biển, Đấng đã chiến thắng cái chết. Chúng ta cần được giúp để sống với cái chết trong niềm hy vọng.

Một Linh mục Đa Minh người Pháp được yêu mến đã qua đời trong một Tổng công nghị ở Bogota. Trong tang lễ của ngài, anh em phương Tây vô cùng đau buồn. Một sư huynh trẻ người Colombia phản đối: “Đây không phải là lúc chết, đây là thời điểm của đức tin.” Người anh em của chúng ta trong Thượng Hội đồng này, Linh mục Dòng Tên Orobator đã cám ơn cha mẹ đã nuôi dạy mình, đã giữ đạo theo truyền thống châu Phi, với ý thức sâu sắc về món quà sự sống. Ngài viết: “Trọng tâm của toàn bộ hệ thống tôn giáo ở Châu Phi là đức tin sâu sắc vào bản chất sống động của sự sáng tạo”. Bạn không biết sự sống có ý nghĩa gì nếu bạn trốn tránh cái chết. Chúng ta có nhiều điều để học từ anh chị em chúng ta ở những nơi khác trên thế giới, những người luôn sẵn sàng đón nhận cái chết và vì thế họ hiểu rõ hơn ý nghĩa của sự sống.

Có lẽ thách thức lớn nhất của chúng ta là chấp nhận điều mà Đức Bênêđíctô XVI gọi là “tính liên văn hóa”. Bây giờ không phải là lúc để khám phá điều đó có ý nghĩa gì về mặt lý thuyết. Thay vào đó chúng ta tưởng tượng một cái lưới. Lưới được tạo thành từ các lỗ trống được nối với nhau bằng dây thừng. Không gian và liên kết. Không có cả hai thì sẽ không có lưới để lưới cá.

Khi các nền văn hóa gặp nhau, phải có khoảng cách giữa chúng. Văn hóa này không được nuốt chửng văn hóa kia, như trường hợp toàn cầu hóa của chủ nghĩa tiêu dùng. Chúng ta phải tôn trọng sự khác biệt văn hóa. Tiếng Đức là zwischenraum, “khoảng trống ở giữa”.

Đó là không gian phong phú giữa các văn hóa, khi mỗi văn hóa vẫn giữ được bản sắc nhưng lại cởi mở với các văn hóa khác. Thánh Tôma Aquinô nói, khi có tình yêu thì cả hai trở thành một, nhưng vẫn có sự khác biệt.

Không văn hóa nào có thể kết hợp chúng ta, cả văn hóa la-tinh cũng như văn hóa Aquinô! Lưới không bị rách vì mỗi văn hóa đều cởi mở với sự thật theo cách riêng của mình. Năm 1992, trong bài phát biểu ở Hồng Kông, Hồng y Ratzinger giải thích: “Sự cởi mở cơ bản của mỗi người với người khác chỉ có thể được giải thích bằng sự thật ẩn giấu: tâm hồn chúng ta đã được sự thật chạm đến; và điều này giải thích sự đồng thuận thiết yếu tồn tại ngay cả giữa các nền văn hóa xa cách nhau nhất… Không ai hiểu được toàn bộ; vô số ý tưởng hình thành và xây dựng nên một loại bức tranh khảm thể hiện tính bổ sung và mối quan hệ qua lại của chúng. Để được trọn vẹn, mọi người đều cần người khác. Con người chỉ tiếp cận được sự thống nhất và phong phú của mình trong sự hỗ tương của mọi thành tựu văn hóa vĩ đại.” Qua Kinh Tin Kính, chúng ta ràng buộc với nhau trong một đức tin chung vượt trên mọi văn hóa. Nhưng làm thế nào để bạn dịch homo ousios sang tiếng phạn, tiếng hinđu, tiếng nhật? Mạng lưới này phải được duy trì bằng niềm vui chung, tình bạn và tiếng cười. Một trong những ví dụ hấp dẫn nhất về tính liên văn hóa này là sứ mệnh của Dòng Tên khi họ đến Trung Quốc vào thế kỷ 16. Cuộc gặp giữa phương Tây và phương Đông này phát triển mạnh mẽ nhờ tình hữu nghị cùng hữu ích cho cả hai bên. Trên thực tế, quyển sách đầu tiên của linh mục Dòng Tên Matteo Ricci là về tình bạn. Tình bạn đan lưới.

Nhưng thay vì nói về các tu sĩ Dòng Tên đáng thán phục này, tôi sẽ xem xét hai ví dụ mà tôi đã trải qua trong Dòng của tôi, để chúng ta có thể hình dung nhiệm vụ của chúng ta ở Thượng Hội đồng. Một trong những nơi tôi thích là nông trại Songhai ở Benin, do Linh mục Godfrey Nzamujo dòng chúng tôi thành lập. Songhai là tên của đế chế châu Phi vĩ đại đã phát triển mạnh trong vùng cách đây 500 năm. Linh mục Nzamjo học làm nông trại ở Châu Phi và nghiên cứu khoa học phương Tây ở California. Songhai là thành quả của nông nghiệp châu Phi và phương Tây. Trang trại bắt đầu với một hêcta đất hoang không ai khai thác, bây giờ nông trại rộng  24 hêcta là nơi đào tạo các nông dân trẻ cho toàn Phi châu, thậm chí cả thế giới.

Không có gì lãng phí ở đây. Ruồi ăn thức ăn thừa của nhà hàng và sau đó được cho cá ăn. Linh mục Nzamujo gọi Songhai là khách sạn Sheraton của ruồi. Tất cả động vật và thực vật đều phát triển nhờ phụ thuộc lẫn nhau. Ở Songahi, ngay cả muỗi cũng có vai trò trong việc cân bằng sự sống, dù chúng không phải là một trong những ý tưởng hay nhất của Chúa!

Ở đây, Bí tích Thánh Thể được cử hành trong hệ sinh thái tạ ơn, Linh mục Nzamujo cho biết: “Thánh lễ là sự kết hợp các món quà của mặt trời, nước và đất. Rượu là nỗi đau đến từ trái nho phải bị vò nát, nhưng rượu lại là biểu tượng của tình bạn.”  Songhai tỏa hy vọng. Linh mục nói: “Có lúc sinh ra và có lúc chết đi, vì đó là lẽ tự nhiên. Châu Phi có vẻ như đang thua, nhưng thành thật mà nói, tôi cảm nhận từ những gì tôi thấy thì ngày mai là ngày của Châu Phi.”

Đây là điều xảy ra khi các văn hóa gặp nhau trong tình bạn và tạo hy vọng. Không gian giữa chúng ta tràn ngập niềm vui, tiếng cười của nhau. Linh mục Nzamujo cho biết những con heo của cha tượng trưng cho dự án và tình bạn của chúng tôi, vì chúng là kết quả của việc lai giống giữa những con lợn Yorkshire trắng lớn như tôi với những con lợn đen như cha. Sự khác biệt là phong phú.

Một ví dụ ngắn gọn khác: tu sĩ Shigeto Oshida dòng Đa Minh Nhật Bản tự cho mình là một phật tử đã gặp Chúa Giêsu. Ngài thành lập một đạo tràng gần núi Phú Sĩ, nơi tín hữu kitô và phật tử chung sống hài hòa với nhau. Ngài ghét xu hướng che giấu hiện thực bằng những khái niệm trừu tượng của phương Tây. Ngài gọi đây là “chân thứ ba của con gà”, không phải chân phải hay chân trái mà cái chân trừu tượng, không tồn tại. Ngài nói: “Người Nhật chúng tôi biết tôn giáo là gì trong máu của mình. Giáo hội công giáo không phải là hộp sôcôla hay một công ty.”

Khi Linh mục Oshida tổ chức các khóa tĩnh tâm, đặc biệt cho các giám mục quen với cuộc sống tĩnh tại, ngài thích gởi họ ra ruộng trồng lúa, không lay chuyển trước sự phản đối của họ vì họ than đau lưng. Ngài viết: “Một người nông dân làm việc chăm chỉ từ sáng đến tối đều biết một hạt gạo không phải là sản phẩm của mình, do mình làm ra, nhưng là do Chúa ban. Họ phải dâng hạt gạo cho Thiên Chúa, Đấng ẩn giấu nhưng là Đấng ban phát tất cả”. Họ phải nói: “Cái này là của Chúa.” Oshida rất phê phán văn hóa phương Tây, nhưng, giống như Nzamujo, ngài vượt qua chia rẽ văn hóa bằng niềm vui và tiếng cười. Ngài thích nói đùa Chúa đã lừa để tôi là tín hữu kitô, rồi sau đó là linh mục Dòng Đa Minh vì cha đã gặp một số tín hữu kitô, những tu sĩ Dòng Đa Minh tuyệt vời, nghĩ rằng chúng tôi thích chuyện này. Ngài cười và nói: “Tôi sai rồi! Chúa đã lừa tôi.”

Vì vậy, lưới của Phêrô tràn đầy không gian và được gắn kết với nhau bằng sự thật, hân hoan và niềm vui. Thánh Phêrô được kéo vào bãi không phải vì quyền lực nhưng nhờ Chúa cuốn hút, Đấng khi được nâng lên sẽ kéo tất cả chúng ta được nâng lên theo Ngài. Nét đẹp kéo lưới vào bãi. Như trường hợp của Matatoshi Asari, một tín hữu công giáo ở Nagasaki, ông đã gởi cây anh đào, biểu tượng của hòa giải đến tất cả các quốc gia bị tổn thương vì Thế chiến thứ hai.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho Thượng Hội đồng với những cuộc gặp văn hóa đầy yêu thương, trong đó cả hai trở thành một nhưng vẫn khác biệt. Không có văn hóa nào thống trị văn hóa nào. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc về sự mất cân bằng quyền lực khi chúng ta nói chuyện với nhau. Sự gặp gỡ các nền văn hóa không bao giờ là ngây thơ hay đơn giản là trí tuệ. Chủ nghĩa thực dân vẫn cấu trúc thế giới, Linh mục Robator đã chia sẻ một câu tục ngữ của người Châu Phi: “Cho đến khi nào con sư tử chưa biết viết, chưa biết nói thì ngành săn bắn sẽ luôn vinh danh người thợ săn”. Bây giờ sư tử đã biết nói, nhưng phương Tây không nghe.

Theo một bài hát thời trẻ của tôi, “Tiền bạc làm thế giới quay.” Chúng ta có thể sống trong một thế giới hậu phương Tây nhưng hệ thống ngân hàng vẫn do phương Tây kiểm soát. Chủ nghĩa đế quốc vẫn chưa kết thúc và vẫn tìm cách áp đặt những giá trị của nó trên người khác. Nhưng người lạ trên bãi biển không phải là người của giới thượng lưu giàu có. Ông đã bị đóng đinh vì đế quốc quyền lực lớn nhất thời của ông, một cái chết dành cho người nô lệ, chỉ cốt làm nhục ông.

Vì vậy, chúng ta phải đặc biệt lắng nghe những người bị đóng đinh một cách đế quốc trong thời đại chúng ta. Chúng ta khiêm tốn lắng nghe nhau. Đó là Simon Phêrô khiêm tốn mà chúng ta sẽ gặp chiều nay.

Marta An Nguyễn dịch

Suy niệm tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Phục sinh: Đi tìm trong bóng tối”

Suy niệm tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Phục sinh: Đi tìm trong bóng tối”

Suy niệm tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Phục sinh: Đi tìm trong bóng tối”

Khóa tĩnh tâm hai ngày của Thượng hội đồng bắt đầu ngày thứ hai 30 tháng 9, Linh mục Timothy Radcliffe, cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh suy niệm về đề tài: “Phục Sinh: Đi tìm trong Bóng Tối”. Khóa họp của Thượng hội đồng Giám mục lần thứ XVI sẽ bắt đầu ngày thứ tư 3 tháng 10.

 

vaticannews.va, Linh mục Timothy Radcliffe, 2024-09-30

Linh mục Timothy Radcliffe, Dòng Đa Minh

Khóa tĩnh tâm năm ngoái chúng ta đã suy ngẫm về cách lắng nghe nhau. Làm thế nào chúng ta có thể đối diện với những khác biệt của nhau trong hy vọng, mở rộng trái tim và khối óc của mình cho nhau? Một số rào cản đã được dỡ bỏ, tôi hy vọng chúng ta đã bắt đầu xem người không đồng ý với mình không phải là đối thủ, nhưng là người anh em, người cùng chúng ta đi tìm.

Năm nay chúng ta có một chủ đề mới: “Làm thế nào để trở thành một Giáo hội truyền giáo có tính đồng nghị.” Tuy căn bản công việc làm đều giống nhau: kiên nhẫn, sáng tạo, thông minh và cởi mở lắng nghe. Tôi còn nghĩ đến việc dùng lại các bài giảng tương tự như khóa tĩnh tâm năm ngoái, nhưng quý vị sẽ nhận ra! Linh mục  Herbert McCabe dòng chúng tôi giờ chót mới nhớ ra cha phải thuyết trình cho một hiệp hội các thần học gia lỗi lạc. Cha lấy một bài và nhảy lên xe gắn máy đi. Khi mở bài ra, cha thấy đây là bài cha đã giảng cho họ năm ngoái. Tôi hỏi cha: “Vậy cha làm sao?” Cha trả lời: “Tôi bỏ những câu chuyện khôi hài qua một bên, đó là những chuyện duy nhất họ nhớ.”

Tôi chắc quý vị có một trí nhớ tốt hơn.

Lắng nghe sâu xa vẫn là căn bản của công việc chúng ta năm nay. Nhà thơ Amos Oz đã nói về ông nội của ông: “Ông lắng nghe. Ông không lịch sự giả vờ nghe, ông sốt ruột chờ nghe, ông im lặng. Ông không ngắt lời, ông để cô nói xong. Ông không xen vào tóm tắt những gì cô nói để chuyển sang chủ đề khác. Ông không để người đối thoại nói chuyện trong khoảng trống, ông chuẩn bị câu trả lời để ông sẽ nói sau khi cô nói xong. Ông không giả bộ thích thú, ông thành thật!” Lắng nghe Chúa và lắng nghe anh chị em mình, đó là kỷ luật của sự thánh thiện.

Năm nay chúng ta sẽ suy niệm về Sứ mệnh duy nhất là loan báo Chúa phục sinh và Tin Mừng của Ngài cho thế giới ngày nay”, một thế giới “tăm tối và trong bóng tử thần” (Lc 1,79). Để suy niệm chúng ta lấy bốn cảnh phục sinh trong Tin Mừng Thánh Gioan: “Đi tìm trong bóng tối”, “Căn phòng đóng kín”, “Người lạ trên bãi biển” và “Bữa ăn sáng với Chúa”. Mỗi cảnh giúp chúng ta thấy một Giáo hội truyền giáo đồng nghị trong thế giới bị đóng đinh của chúng ta.

Cảnh đầu tiên là cảnh ban đêm: “Ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đã đến mộ” (Ga 20.1). Đây là nơi chúng ta tìm thấy chính mình ngày hôm nay. Vì bạo lực, năm nay thế giới còn đen tối hơn năm ngoái. Bạo lực đi tìm người chủ yêu quý của nó. Chúng ta quy tụ với nhau ở Thượng hội đồng này để đi tìm Chúa. Ở phương Tây, dường như Chúa đã biến mất. Chúng ta không đương đầu với chủ nghĩa vô thần nhiều như đương đầu với sự thờ ơ của mọi người. Chủ nghĩa hoài nghi đầu độc tâm hồn của nhiều tín hữu. Nhưng dù ở đâu, tất cả tín hữu kitô đều đi tìm Chúa như bà Maria Mácđala đi tìm Chúa trước bình minh.

Chúng ta cảm thấy mình như ở trong bóng tối. Kể từ năm ngoái, nhiều người tham gia Thượng hội đồng đã nghi ngờ không biết rồi Thượng hội đồng có đạt được gì không. Giống như bà Maria Mácđala, nhiều người nói: “Vì sao họ lại lấy đi niềm hy vọng của chúng tôi? Chúng tôi đã mong đợi rất nhiều từ Thượng Hội đồng, nhưng có lẽ cũng sẽ chỉ còn vài lời.”

Dù ban đêm nhưng Chúa đã ở đó với bà Maria Mácđala và với chúng ta. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài nói: Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24). Hạt giống đã được ông Giuse người Arimathia và ông Nicôđêmô gieo vào vùng đất màu mỡ, gieo trong ngôi mộ mới. Hạt giống sắp nở hoa. Bình minh đang đến gần. Giống như bà Maria Mácđala, chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn những gì chúng ta đi tìm nếu chúng ta mở lòng để gặp Chúa.

Trong vườn Giếtsêmani, chúng ta gặp ba người đi tìm, bà Maria Mácđala, người môn đệ Chúa yêu quý và ông Simon Phêrô. Mỗi người tìm Chúa, yêu Chúa theo cách của mình và tâm hồn ai cũng bị trống rỗng. Họ hy vọng, họ không cạnh tranh nhau. Sự phụ thuộc lẫn nhau của họ là hiện thân của tính đồng nghị. Tất cả chúng ta đều có thể thấy mình giống ít nhất một trong ba người này. Bạn là ai?

Linh mục thần học gia Tomas Halik khẳng định tương lai Giáo hội tùy thuộc vào những người đi tìm này. Họ thường xuyên đi tìm ý nghĩa cuộc sống, tôi không nói về các nữ tu chiêm niệm, nhưng với những người nói họ không theo tôn giáo nào. Linh mục Halik viết: “Người tín hữu kitô phải là những người đi tìm với những người đi tìm khác, người đặt câu hỏi với những người đặt câu hỏi.”

Tất cả những câu chuyện Chúa sống lại đều có nhiều câu hỏi. Hai lần, bà Maria Mácđala bị hỏi vì sao bà khóc. Còn bà, bà hỏi họ để xác Ngài đâu. Mọi người đều hỏi vì sao ngôi mộ trống. Các bà hỏi: “Ai sẽ là người lăn tảng đá cho chúng tôi?” (Mc 16.3). Phúc âm Thánh Luca đầy những câu hỏi: “Sao các ông tìm người sống giữa kẻ chết?” Chúa Giêsu hỏi các môn đệ trên con đường Ê-mau: “Các ông đang nói gì thế?” Sau đó Ngài nói với các môn đệ: “Vì sao các ông sợ hãi? Vì sao trong lòng các ông lại nghi ngờ? (24,38).” Sự phục sinh xuất hiện trong cuộc sống chúng ta không phải là lời tuyên bố đơn giản về sự thật, nhưng là những câu hỏi để tìm tòi.

Những câu hỏi sâu sắc không phải là những câu hỏi để biết thông tin. Những câu hỏi mời gọi chúng ta sống theo một cách mới và nói một ngôn ngữ mới. Nhà thơ Rainer Maria Rilke đã viết: “Đừng tìm kiếm những câu trả lời không thể đưa ra cho bạn, vì bạn sẽ không biết cách sống với chúng. Và đó chính xác đó là sống. Hiện tại, chúng ta hãy sống với những câu hỏi của mình. Có lẽ một ngày nào đó bạn sẽ vô tình thấm vào câu trả lời.”

Sự phục sinh không phải là cuộc sống của Chúa Giêsu được tiếp tục sau một thời gian ngắn gián đoạn, nhưng là một cách sống mới trong đó cái chết đã bị đánh bại. Và như vậy, qua Tin Mừng, phục sinh vào cuộc sống chúng ta, trước tiên dưới dạng những câu hỏi cấp bách không cho phép chúng ta tiếp tục sống theo lối sống cũ. Cũng vậy, chúng ta đến với Thượng Hội đồng với nhiều câu hỏi, về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội. Đó là những câu hỏi quan trọng. Nhưng đó không phải là những câu hỏi để chúng ta biết điều gì đó sẽ được phép hay sẽ bị từ chối, có nghĩa vẫn giữ nguyên theo Giáo hội cũ. Nhưng những câu hỏi chúng ta phải đối diện phải giống những câu hỏi trong Tin Mừng, mời gọi chúng ta cùng nhau sống cuộc sống Phục sinh một cách sâu sắc hơn.

Vì thế chúng ta phải dám hỏi những câu hỏi sâu sắc nhất của tâm hồn chúng ta, những câu hỏi gây bối rối mời gọi chúng ta bước vào cuộc sống mới. Giống như ba người đi tìm trong vườn Giếtsêmani, chúng ta phải trả lời các câu hỏi của nhau nếu chúng ta muốn tìm một cách thức mới cho Giáo hội. Nếu chúng ta không có câu hỏi, hoặc những câu hỏi hời hợt, đức tin của chúng ta sẽ chết. Một Tổng giám mục, ngài không có mặt hôm nay, đã nói với một nhóm chủng sinh Đa Minh: “Tất cả các con phải đọc Tổng luận Thần học Summa Aquinate, trong đó có năm mươi sáu ngàn câu trả lời cho những người chỉ trích Giáo hội công giáo.” Truyền thuyết kể, khi còn nhỏ, câu hỏi đầu tiên của Thánh Tôma Aquinô là “Chúa là gì?” và sự thánh thiện của ngài là ngài từ chối bất kỳ câu trả lời nào, vì theo ngài, chúng ta được hiệp nhất với Thiên Chúa cũng như với những điều chưa biết.

Chúng ta nhìn vào ba người đi tìm này để họ giúp chúng ta hiểu cách tiếp xúc với những người đi tìm thời nay. Bà Maria Mácđala có một tình yêu dịu dàng, bằng xương bằng thịt, bà muốn săn sóc  thi thể của Chúa yêu dấu của bà. Chắc chắn bà đại diện cho những ai có lòng trắc ẩn trước những thương đau của thế giới. Mẹ Têrêxa đi tìm thi thể của Chúa trên các con đường của thành phố Calcutta, Thánh Damian của Molokai đã hiến đời sống mình cho các bệnh nhân bị bệnh cùi ở Hawaii.

Chúng ta nghĩ đến hàng triệu người chưa biết Chúa Kitô nhưng họ có lòng trắc ẩn với người đau khổ. Giống bà Maria Mácđala, họ tìm thân xác những người bị tổn thương. Thế giới đang rớt nước mắt. Bốn ngày sau kỳ họp cuối cùng, Hamas đã có những hành động tàn bạo khủng khiếp, Trung Đông rơi vào chiến tranh. Chúng ta đang khóc cho Ukraine, cho cả nước Nga trước những chết chóc, những hy sinh của hàng trăm ngàn thanh niên, chúng ta khóc cho Sudan, cho Miến Điện. Một trong những nhóm đi tìm của Đức Phanxicô có tên “Lắng nghe tiếng kêu của người nghèo”, nhóm có thể được gọi là “Lắng nghe tiếng khóc của những người đang khóc” và Maria Mácđala sẽ là Thánh bổn mạng của họ.

Sau đó bà Maria Mácđala nghe có tiếng gọi mình: “Maria”; “Rabbouni”. Và khoảng trống đã được một tình yêu dịu dàng và nhân ái lấp đầy bằng tiếng gọi tên mình. Bà đi tìm một xác chết, nhưng bà tìm được một tình yêu ngoài mơ ước, tình yêu vẫn còn sống mãi. Thiên Chúa luôn gọi chúng ta bằng tên. “Nhưng bây giờ, lời của Đấng tạo thành ngươi, hỡi Giacóp, lời của Đấng nắn ra ngươi, hỡi Ít-ra-en: Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta” (Is 43:1)

Tên của Ngài là cuộc gặp gỡ, là sự hiện diện của Chúa. Điều đầu tiên trong lễ rửa tội là đặt tên. Tên ông/bà là gì? Tên ông/bà muốn đặt cho con là gì? Tên không phải là dấu hiệu để phân biệt, nhưng là dấu hiệu cho thấy chúng ta được Chúa trân trọng trong sự độc đáo của chúng ta.

Đức Phanxicô chống cách nhìn của hoàng đế la-mã khi ông điều tra dân số, ông chỉ đếm số, nhưng Thiên Chúa của chúng ta: “Anh chị em thân mến, đối với Thiên Chúa, Đấng đã thay đổi lịch sử trong cuộc điều tra dân số, chúng ta không phải là một con số, nhưng chúng ta là một gương mặt… Chúa Kitô không nhìn vào con số nhưng nhìn vào từng khuôn mặt của chúng ta.”

Vì thế sứ mệnh của chúng ta là gọi tên Thiên Chúa, Đấng đang tìm chúng ta trong bóng tối. Ngài trân trọng tên tuổi, gương mặt của mỗi người. Chúng ta là người trung gian cho sự hiện diện của Ngài nếu chúng ta hiện diện với nhau trong Thượng Hội đồng này. Linh mục Dòng Tên Gregory Boyle làm việc với các thanh niên trong các băng đảng ở Los Angeles; bí quyết sứ vụ của ngài là ngài biết tên từng người. Không chỉ tên hay biệt danh của họ mà còn cả tên “cúng cơm” cha mẹ đặt khi còn nhỏ: “Khi tôi gọi tên Lula, người ta tưởng như tôi làm anh bị điện giật. Toàn thân anh tràn ngập niềm vui khi nghe tên mình. Trong suốt con đường dành cho người đi bộ, Lula cứ quay lại nhìn tôi và cười.”

Chế độ chuyên chế xóa tên và khuôn mặt. Tại trại tập trung Auschwitz, Thánh Maximilian Kolbe là tù nhân mang số 16.670. Tổng thống Nga luôn từ chối nêu tên Alexie Navalny, người đã can đảm chống lại ông. Đó chỉ là một “người nào đó”. Tổng thống Nelson Mandela là khuôn mặt phản đối chế độ phân biệt chủng tộc, đó là lý do vì sao khi ông bị giam, nhà cầm quyền cấm công bố hình ảnh của ông. Ông bị xóa khỏi bộ nhớ của công cộng. Vì vậy, sau hàng chục năm bị giam cầm, ông đi dạo trên bãi biển không ai biết đến ông. Khuôn mặt của ông đã bị tước đi sức mạnh.

Thượng Hội đồng này sẽ là khoảnh khắc ân sủng nếu chúng ta trắc ẩn nhìn nhau như những người đang đi tìm. Không phải đại diện của các đảng phái trong Giáo hội, vị hồng y bảo thủ khủng khiếp này, nhà nữ quyền đáng sợ kia! Nhưng là những người đi tìm, đau mà vui. Tôi phải thú nhận tôi không thể nhớ tên, một phần vì tôi bị điếc. Đó là lý do của tôi. Xin tha thứ cho tôi!

Nhưng tình yêu dịu dàng của bà Maria Mácđala cần được chữa lành. Chúa Giêsu nói với bà: “Đừng giữ Thầy lại”. Các nhà chú giải đưa ra những giả thuyết phi lý để giải thích, điều khó tin nhất là vết thương của Chúa Giêsu vẫn còn đau! Ngài nói đừng giữ Thầy lại là nói riêng với bà. Sự hiện diện của Ngài gần bà Maria Mácđala nhưng không thuộc về bà. Sự phục sinh là sự ra đời của cộng đồng. “Dân Chúa không bao giờ là tổng thể của những người đã được rửa tội, nhưng là “chúng tôi” của Giáo hội”. “Nhưng hãy đến gặp anh em Thầy và nói với họ: ‘Thầy lên cùng Cha Thầy và Cha anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy và Thiên Chúa của anh em’”. Đây là lần đầu tiên trong Tin Mừng Thánh Gioan, Ngài gọi các môn đệ là “anh em”. Fratelli Tutti! Bà Maria Mácđala phải giải phóng tình yêu của bà khỏi mọi độc quyền! Lúc đó bà hân hoan báo tin vui cho các môn đệ:

“Tôi đã nhìn thấy Chúa.” Đây cũng là thách thức của chúng ta. Không gắn bó với một Chúa Giêsu của nước Anh, của Dòng Đa Minh của tôi, nhưng với Chúa, trong Ngài tất cả chúng ta đều là anh chị em, kể cả các tu sĩ Dòng Tên! Thượng Hội đồng này sẽ có kết quả nếu chúng ta học cách nói “chúng tôi”. “Cha tôi và Cha anh em, Thiên Chúa của tôi và Thiên Chúa của anh em”.

Và người môn đệ được Chúa yêu thương, người đó cũng có cách yêu thương trong trống rỗng, trong tắt lịm ánh sáng cuộc đời của họ. Còn Thánh Phêrô già, ngài thở hổn ha hổn hển bước vào ngôi mộ tối tăm nhưng ngài thấy khoảng trống giữa các thiên thần và ngài tin. Chính tình yêu cho phép chúng ta nhìn thấy. Ở đâu có tình yêu, ở đó có cái nhìn. Nhìn bằng con mắt tình yêu và do đó nhìn thấy sự chiến thắng của tình yêu. Phúc âm của Thánh Gioan là đại bàng, đôi mắt của đại bàng có thể nhìn thẳng vào ánh sáng mặt trời mà không bị mù. Nghiên cứu nổi bật của ngài là thần học.

Năm nay, tôi dành hai tuần tại Trường Kinh thánh Giêrusalem. Các anh em sống trong bóng tối của cái chết, cách Gaza bốn mươi phút. Họ vẫn ở đó, nghiên cứu Lời Chúa, giảng dạy và cầu nguyện. Đó là dấu hiệu cho thấy “ánh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5). Sự trống rỗng của bà Maria Mácđala được chữa lành khi Chúa Giêsu gọi tên bà – đó là sự hiện diện – và của người môn đệ yêu dấu bằng ánh sáng chiếu vào ngôi mộ trống. Vì thế người môn đệ là hiện thân của tất cả những ai đi tìm để hiểu ý nghĩa cuộc sống của chúng ta, sự trống rỗng hình ảnh của Chúa trong trái tim chúng ta, như triết gia Blaise Pascal đã nói. Tất nhiên là các nhà tư tưởng kitô giáo, nhưng cũng là tất cả những người đang cố gắng đi tìm ánh sáng trong bóng tối đau khổ của chúng ta: các nhà thơ, nghệ sĩ, các nhà làm phim từ chối tin rằng bóng tối chiến thắng. Để rao giảng về sự phục sinh, chúng ta cần họ, cởi mở đón nhận sự khôn ngoan của họ như Thánh Tôma Aquinô với người ngoại giáo Aristotle. Ngài đã viết rằng tất cả “sự thật, bất kể ai nói ra, đều đến từ Chúa Thánh Thần (omne verum, a quocumque dicatur, est a Spiritu Sancto)”.

Sau đó là ông Simon Phêrô. Sự trống rỗng của ông là nặng nề nhất, gánh nặng của thất bại. Ông chối bạn mình. Chắc chắn ông mong muốn những lời chữa lành mà cuối cùng sẽ được nói ra trên bờ biển. Vì thế sứ mạng mục vụ của chúng ta cũng là ở với tất cả những người bị thất bại và tội lỗi, chia sẻ sự tha thứ mà chúng ta đã nhận được, sự khám phá của chính chúng ta về ân sủng đáng kinh ngạc của Đấng đã “cứu một người khốn khổ như tôi. Tôi đã lạc mất mà bây giờ được tìm thấy; trước đây tôi bị mù mà bây giờ tôi nhìn thấy được.” Sứ mệnh của chúng ta là bổ nhiệm người có lòng thương xót, giống như Phêrô mà chúng ta cần.

Vì vậy, trong cảnh phục sinh đầu tiên này, chúng ta thấy cách Chúa đáp lại ba hình thức tìm kiếm tương ứng với ba khoảng trống trong cuộc sống của chúng ta: tình yêu dịu dàng tìm kiếm sự hiện diện; việc đi tìm ý nghĩa, ánh sáng và tha thứ. Mỗi người đi tìm đều cần người khác. Không có bà Maria Mácđala họ đã không đến mộ. Bà nói Chúa ở đó. Không có người môn đệ yêu dấu, họ không thấy Phục Sinh trong ngôi mộ trống rỗng; không có Phêrô, họ sẽ không hiểu Phục Sinh là sự khải hoàn của lòng thương xót.

Mỗi người đại diện cho một nhóm cảm thấy bị loại trừ theo cách này hay cách khác trong Thượng hội đồng vừa qua. Bà Maria Mácđala nhắc chúng ta phụ nữ thường bị loại khỏi các vị trí quyền lực chính thức trong Giáo hội. Làm thế nào chúng ta có thể tìm ra con đường phía trước mà công lý và đức tin của chúng ta đòi hỏi? Tìm kiếm của họ là của chúng ta. Trong Thượng hội đồng vừa qua, nhiều thần học gia cảm thấy họ bị gạt ra ngoài lề. Một số thắc mắc tại sao họ lại bận tâm đến đây. Chúng ta không thể làm gì nếu không có họ. Và nhóm chống lại con đường đồng nghị nhiều nhất là các mục tử, các linh mục giáo xứ, với tư cách là những mục tử của lòng thương xót, đặc biệt chia sẻ vai trò của Thánh Phêrô. Giáo hội không thể trở thành đồng nghị thực sự nếu không có họ.

Khi hầu hết mọi người đều có cảm giác rằng chính họ là những người bị loại trừ thì không nên có sự cạnh tranh về địa vị nạn nhân! Tất cả những nhân chứng này đều cần thiết để tìm kiếm Chúa trong bóng tối, cũng như Thượng Hội đồng cần mọi con đường để chúng ta yêu mến và tìm kiếm Chúa, cũng như chúng ta cần những người đi tìm trong thời đại chúng ta, ngay cả khi họ không chia sẻ cùng đức tin với chúng ta.

Điều này sẽ dẫn đến sứ mệnh như thế nào? Những lời này là của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Chúng thậm chí còn hay hơn những gì nhà văn đã viết: “Nếu bạn muốn đóng một con tàu, bạn đừng quy tụ các ông các bà của bạn lại với nhau để ra lệnh cho họ hoặc giải thích cho họ mọi chi tiết về những gì họ nên làm hoặc tìm mọi thứ ở đâu… Nếu bạn muốn đóng một chiếc thuyền, hãy khơi dậy trong trái tim họ niềm khao khát biển cả!” Hãy để họ nếm trải sự vô tận, và họ sẽ tìm ra cách riêng của mình để đóng những chiếc thuyền và giương buồm ra đại dương bao la.

Mỗi nhân chứng này đều được đánh động bởi một tình yêu vô hạn. Bà Maria Mácđala cảm động trước sự dịu dàng vô bờ; người đệ tử yêu dấu xúc động khi đi tìm ý nghĩa vô tận; Thánh Phêrô, vì ngài cần có lòng thương xót vô biên, tha thứ không phải bảy lần mà là bảy mươi lần bảy. Nếu chúng ta mở lòng đón nhận khát vọng vô hạn của mỗi người thì chúng ta sẽ hạ thủy con thuyền truyền giáo. Theo thư Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Êphêsôl, chỉ cùng nhau chúng ta mới có thể “đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa. (Êp 3,18.19).

Marta An Nguyễn dịch

Suy niệm ngày tĩnh tâm của Thượng Hội đồng: “Phép lạ mẻ cá”

 

Bài mới nhất