Phúc âm như một kế hoạch kinh doanh

25

Phúc âm như một kế hoạch kinh doanh

Phúc âm như một kế hoạch kinh doanh: các lãnh đạo kitô giáo dung hòa đức tin và kinh tế như thế nào

lavie.fr, Veronique Durand, 2026-03-11

Bài viết của Bà Véronique Durand

Phúc âm như một kế hoạch kinh coanh: Các nhà lãnh đạo kitô giáo dung hòa đức tin và kinh tế của họ như thế nào?

Đức tin và kinh doanh: đối lập hay liên minh hiệu quả? Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Kitô giáo chứng minh lợi nhuận và lợi ích chung có thể song hành, dựa trên 150 năm Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội để tái tạo công ty của ngày mai.

Trong các xưởng của Hiệp hội Agreenculture, một doanh nghiệp vừa và nhỏ có trụ sở tại Toulouse do Christophe Aubé (ở giữa, đang cúi người trên máy) thành lập để tự động hóa máy móc nông nghiệp. Guillaume Rivière / La Vie

Việc dung hòa đức tin và kinh tế trong một xã hội luôn muốn tăng trưởng bằng mọi giá, dù bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo ngày càng gia tăng và hành tinh phải chịu đựng những biến đổi khí hậu nghiêm trọng, liệu chúng ta có đi ngược dòng không? Câu hỏi này đang làm bận tâm nhiều nhà lãnh đạo Kitô giáo, những người quan tâm đến việc chăm sóc trái đất và làm cho trái đất phong phú. Bị mắc kẹt giữa sự cấp bách của việc thực hiện một quá trình chuyển đổi sinh thái, sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, tất cả đều phải thành công trong việc tìm ra một mô hình kinh tế khả thi. Những lựa chọn chiến lược nào có thể được thực hiện mà không tương phản với các giá trị của mình khi điều hành một công ty và lãnh đạo hàng chục hoặc hàng trăm nhân viên.

Với nhiều người, Kinh Thánh vẫn là chiếc la bàn đưa ra các con đường cần đi theo

Linh mục , nhà vật lý học, cố vấn thiêng liêng cho các Giám đốc công ty và các Doanh nhân lãnh đạo thương mại (Christian Business Leaders, EDC), một phong trào sẽ kỷ niệm 100 năm thành lập vào năm 2026.

Linh mục Thierry Magnin nhắc lại: “Ngay từ những ngày đầu của hành trình Giáo hội, Phúc Âm đã là sợi chỉ dẫn đường, và Giáo hội không chờ đến Rerum novarum, thông điệp của Giáo hoàng Lêô XIII để quan tâm đến người nghèo. Điều này được chứng minh bằng sự xuất hiện các tu viện ngay từ thời Trung Cổ, nơi các tu sĩ trú ẩn, họ tránh đời sống xã hội và kinh tế, nơi những người dễ bị tổn thương nhất sống. Nhưng cũng nhờ vào tác động toàn diện từ những hành động của các kitô hữu tận tụy như Frédéric Ozanam (1813-1853), người sáng lập Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô, và rất nhiều người khác.”

Đi tìm lợi ích chung

Với các Nhà lãnh đạo Kitô giáo, việc theo đuổi lợi ích chung là trọng tâm. Họ suy ngẫm trong các nhóm nhỏ, họ gặp nhau thường xuyên để cầu nguyện, chia sẻ, lắng nghe Lời Chúa và nghiên cứu tư tưởng xã hội Kitô giáo. Phong trào này ngày nay vẫn đáp ứng nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa và cần một la bàn để giữ vững hướng đi trong một thế giới bị lung lay tứ phía. Chuyên gia Nicolas Masson về giáo lý xã hội của Giáo hội tại Hiệp hội Doanh nhân lãnh đạo thương mại phân tích: “Chúng ta có thể thấy rõ ràng chúng ta đã đến giới hạn của chủ nghĩa tự do và một số hệ thống nhà nước. Chúng ta đang chạm đến giới hạn của mình và các hệ thống đang bị tắc nghẽn. Ngày nay, chúng ta cần một biến đổi thực sự, nhưng nó sẽ không tự xảy ra; chúng ta sẽ phải nỗ lực vì nó, vì cũng có những lực lượng đối lập.” Ông lo ngại về “quyền lực của chủ nghĩa tư bản tự do, thay vì biến mất, nó lại có thể củng cố quyền lực hơn nữa trong bối cảnh tình hình quốc tế đầy bất ổn hiện nay.”

Theo ông: “Tư tưởng xã hội Kitô giáo là chất xúc tác để suy nghĩ lại về biến đổi, về thay đổi mô hình này, hoặc ít nhất là để tiến về phía trước theo hướng đúng đắn nhất có thể.” Đây là đề tài ông quan tâm đến từ những năm ông còn học trung học: “Một người hướng dẫn rất tâm huyết với chủ đề này đã mời chúng tôi suy ngẫm về những gì Kinh thánh và Giáo hội nói với chúng ta về cách xã hội vận hành. Kể từ đó, điều này đã giúp tôi nhất quán với đức tin, với đời sống nghề nghiệp, đời sống xã hội của tôi.”

Ông đã làm việc trong lãnh vực xây dựng và tư vấn, hiện ông đang phát triển và dẫn dắt các buổi đào tạo về tư tưởng xã hội Kitô giáo cho nhiều đối tượng khác nhau.

Những tiền đề của mô hình xã hội Pháp

 Thông điệp Tân sự Rerum Novarum của Đức Lêô XIII xuất bản năm 1891, đã thiết lập học thuyết xã hội của Giáo hội. Khi đó, nước Pháp đang trải qua thời điểm then chốt trong lịch sử: đất nước đắm chìm trong ảo tưởng tự do được nuôi dưỡng bởi Thời kỳ Khai sáng Cách mạng. Một thế kỷ trước đó, các Hiệp hội nghề nghiệp đã bị Luật Le Chapelier cấm. Không có các cơ quan trung gian đại diện cho họ, phần lớn người dân thấy họ không có khả năng tự vệ. Ông Nicolas Masson nhắc lại: “Đó là một trận động đất về tư tưởng; người công giáo phải đối diện với sự thù địch chưa từng có, với sự đàn áp chống tôn giáo. Đồng thời, Cách mạng Công nghiệp bắt đầu với sự xuất hiện của các tập đoàn lớn. Ở Pháp, cũng như ở Anh, Đức và Ý, một giai cấp vô sản – theo đúng nghĩa đen của từ này – đã nổi lên. Điều kiện sống của công nhân hoàn toàn không thể chịu đựng được.”

Chính vào thời điểm đó, các tín hữu kitô, cả Công giáo và  và Tin Lành đã phản ứng.

Tiến sĩ Louis René Villermé (người soạn thảo luật đầu tiên của Pháp về hạn chế lao động trẻ em) đã lên tiếng tố cáo tình cảnh khốn khổ của tầng lớp công nhân, những người phải làm việc bảy ngày một tuần, kể cả con cái của họ. Họ không có cả sự giúp đỡ của xã hội, không có lương hưu. Các chủ doanh nghiệp, xúc động trước những câu hỏi xoay quanh phẩm giá của người lao động, đã cam kết cải thiện điều kiện sống của gia đình công nhân. Họ trở thành những người tiên phong của mô hình xã hội Pháp dựa trên phẩm giá người lao động, tình đoàn kết và lợi ích chung – những nguyên tắc cốt lõi của tư tưởng xã hội Kitô giáo.

Trong số những người nổi tiếng nhất là ông Léon Harmel (1829–1915), nhà công nghiệp đến từ vùng Marne, nước Pháp, ông khởi xướng trợ cấp gia đình; Nhà công nghiệp Lille và người sáng lập Đại học Công giáo Lille, Philibert Vrau (1829-1905) đã thực hiện các điều kiện làm việc không chỉ thúc đẩy năng suất mà còn cả phúc lợi và sự phát triển cá nhân của nhân viên: bãi bỏ việc làm đêm với phụ nữ, thành lập Hiệp hội nhà ở Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho công nhân… Năm 1841, nhà công nghiệp Tin lành người Alsace, Daniel Legrand đã ban hành luật cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 8 tuổi trong các hầm mỏ và nhà máy, đồng thời giới hạn giờ làm việc của trẻ em dưới 12 tuổi xuống còn 8 giờ ngày (sáu ngày một tuần).

Ông Nicolas Masson nhớ lại: “Họ không hoàn toàn đồng ý với nhau, nhưng họ thảo luận, dẫn đến việc họ xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh khác nhau. Ban đầu, đó là chủ nghĩa gia trưởng, nhưng dần dần họ nhận ra họ phải tạo nhiều nơi chốn hơn cho sự tham gia và ra quyết định của người lao động; thậm chí còn bảo vệ ý tưởng rằng người lao động nên được đối xử như ‘người anh em hàng xóm của họ.”

Một cú sốc lớn của Châu Âu

Những nhà tư tưởng như Frédéric Ozanam và Armand Marquiset, người sáng lập Dòng Tiểu đệ Người nghèo đã hình dung ra những hệ thống mới cho phép người Pháp làm việc một cách đàng hoàng, đặc biệt là cho họ mức lương dựa trên gia đình. Họ bảo vệ: “Đây là sự xuất hiện của các hội tương trợ và các biện pháp bảo trợ xã hội.”

Đức Lêô XIII tiếp đón những người sử dụng lao động Kitô giáo này, dựa trên kinh nghiệm của họ và những suy tư của các tu sĩ Dòng Tên người Đức và Tây Ban Nha.

Đây là cách ngài hiểu các vấn đề của xã hội hiện đại, chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tự do, sau đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa Mác: “Đức Lêô XIII muốn Giáo hội tham gia vào việc suy nghĩ lại về xã hội. Mọi thứ đều phải được đánh giá lại, giống như ngày nay với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo.”

Ông Nicolas Masson nhấn mạnh: “Văn bản ngài soạn thảo sẽ gây chấn động vì nội dung chưa từng có tiền lệ, bằng cách dựa trên Phúc Âm và nhiều kinh nghiệm khác nhau, ngài đã hình thành một văn bản bác bỏ cả chủ nghĩa tự do, với tất cả những khó khăn của nó, và chủ nghĩa xã hội Mác-xít, cho rằng nó còn tồi tệ hơn cả cái ác.”

Một trong những đặc điểm của tư tưởng xã hội không phải là tìm cách mở ra con đường thứ ba hay tạo ra một hệ tư tưởng mới, nhưng cung cấp những yếu tố cho phép mọi người có được cái nhìn toàn diện và tìm ra giải pháp tốt nhất trong bối cảnh này. Vì tầm quan trọng của nó, Thông điệp Tân sự Rerum Novarum đã tạo ra nhiều văn bản khác làm sáng tỏ những thách thức của các thời đại đề cập đến. Trong số các thông điệp giáo hoàng mang tính bước ngoặt có sức ảnh hưởng vượt ngoài phạm vi Công giáo, thông điệp Với nỗi lo lắng cháy bỏng, Mit brennender Sorge của Đức Piô XI ban hành ngày 14 tháng 3 năm 1937, đã dũng cảm lên án nền tảng tư tưởng của chế độ Đức Quốc xã, tuy nhiên, ngài không đưa ra lập trường về việc bức hại người Do Thái, điều mà sau này ngài bị chỉ trích. Thông điệp được xuất bản bằng tiếng Đức, không phải tiếng La-tinh để có thể đọc trong tất cả các nhà thờ ở Đức. Ông Nicolas Masson nhấn mạnh: “Điều này xảy ra ba năm sau khi Hitler lên nắm quyền, và ít người có tầm nhìn xa như vậy.”

Một văn bản quan trọng khác, Thông điệp Laudato si’ năm 2015 của Đức Phanxicô được công bố vài tháng trước Hội nghị COP21, nổi bật như một đóng góp quan trọng của Giáo hội trong cuộc tranh luận về khủng hoảng sinh thái. Liệu Đức Lêô XIV có tiếp tục truyền thống này, nâng cao nhận thức, lên án những bất công và đưa ra những hướng hành động vì một thế giới công bằng và huynh đệ hơn, như Chúa Kitô mời gọi chúng ta không?

Ngày 15 tháng 5 năm 2025, Đức Lêô XIV tuyên bố trong cuộc gặp đầu tiên với các đại sứ được bổ nhiệm tại Tòa Thánh, chỉ vài ngày sau khi ngài được bầu chọn: “Trong thời đại biến đổi chúng ta đang sống, Tòa Thánh không thể không lên tiếng trước các mất cân bằng và bất công dẫn đến, trong số những điều khác, có điều kiện làm việc không xứng đáng và các xã hội ngày càng chia rẽ và xung đột. Chúng ta phải nỗ lực giải quyết sự bất bình đẳng toàn cầu, nơi giàu có và nghèo đói tạo ra những chia rẽ sâu sắc giữa các châu lục, giữa các quốc gia và thậm chí trong cùng một xã hội.”

Một nguồn cảm hứng

Nếu những người ra quyết định đã đóng góp vào những văn bản truyền cảm hứng về tư tưởng xã hội, một truyền thống Kitô giáo đã tồn tại hơn 150 năm, tiếp tục nuôi dưỡng các thế hệ mới và khuyến khích họ tham gia vào việc theo đuổi lợi ích chung và tôn trọng tạo hóa. Các nam nữ giáo dân này được nuôi dưỡng bằng những văn bản mà Phúc Âm là trọng tâm, đang tiến lên phía trước và dám đổi mới trong các vấn đề kinh tế và quản lý.

Giống như ông Christophe Aubé, 38 tuổi, chủ tịch sáng lập Hiệp hội Agreenculture ở vùng Yonne, người đang tìm cách phát triển robot trong nông nghiệp để giải phóng thời gian cho nông dân. Chính khi ông đọc thông điệp Laudato si’ năm 2015 đã thúc đẩy người con của một nông dân này thay đổi nghề nghiệp và đóng góp cho cộng đồng. Ông nỗ lực hướng tới mục tiêu này thông qua hiệp hội RobAgri, nơi ông làm chủ tịch, và tập hợp hơn 90 bên liên quan trong lĩnh vực robot nông nghiệp (nhà sản xuất, viện nghiên cứu, công ty khởi nghiệp và người sử dụng). Với ông, những người lãnh đạo như Philibert Vrau là những hình mẫu truyền cảm hứng: “Có lẽ họ có phần gia trưởng, nhưng họ biết cách vượt ra ngoài những gì luật lao động quy định và nhân văn hóa môi trường doanh nghiệp của họ.” Tại Hội nghị Văn hóa Xanh  Agreenculture, ông đã khởi xướng việc thành lập một ủy ban đạo đức, do các nhân viên lãnh đạo, những người được khuyến khích tham gia định hình tầm nhìn của công ty.

Vị trí của những người dễ bị tổn thương nhất

Một trong những thách thức lớn phía trước là trí tuệ nhân tạo (AI), sẽ là chủ đề thông điệp sắp tới của Đức Lêô XIV. Không phải ngẫu nhiên ngài dành Tông huấn đầu tiên Dilexite (Ta đã yêu thương các con) cho tình yêu người nghèo, đề cập đến các hình thức nghèo đói khác nhau: vật chất, giáo dục, văn hóa, tinh thần, hoặc liên quan đến bệnh tật. Mục sư Guillaume de Clermont, Tổng Giám đốc Quỹ John-Bost nhấn mạnh: “Trong thế giới việc làm, có từ 11 đến 12 triệu người bị ảnh hưởng bởi khuyết tật, hữu hình hoặc vô hình. Xây dựng một doanh nghiệp mà bỏ qua sự dễ bị tổn thương là điều không thể.” 

Cơ sở chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội tư nhân Tin Lành này chào đón, hỗ trợ và chăm sóc hơn 2.000 người (trẻ em, thanh thiếu niên, người lớn và người cao tuổi) mắc các khuyết tật về tinh thần, đa khuyết tật/khuyết tật hiếm, rối loạn phổ tự kỷ, khuyết tật trí tuệ, cũng như người già hoặc người lớn tuổi khuyết tật.

Nhà sáng lập của chúng tôi đã nói: “Những người bị mọi người ruồng bỏ, tôi sẽ chào đón, nhân danh Chúa của tôi. Không có tường rào hay hàng rào, tôi sẽ trải hoa dọc con đường. Đó là tất cả những người, vì khuyết tật của họ, không được đặt ở trung tâm đời sống xã hội và kinh tế. Hầu hết đều sống phụ thuộc, họ ít có cơ hội việc làm và bị cho là gánh nặng cho xã hội, làm chúng ta khó nhìn thấy phẩm giá của họ. Nhóm người này gây tốn kém cho một xã hội đề cao kinh tế, phát triển cá nhân và cái tôi quá lớn, thông qua màn hình và thế giới ảo, xây dựng hình ảnh về sự toàn năng và vẻ đẹp. Ông giải thích: “Hàng ngày, các nhóm này đều đi ngược lại xu hướng. Thông qua những người mà chúng tôi chào đón, chúng tôi cố gắng cho thấy đằng sau sự dễ tổn thương là phẩm giá của cuộc sống, và nó có một mục đích xã hội, vì sớm hay muộn, mọi người đều sẽ phải đối diện với sự dễ tổn thương này, khi sự hữu hạn xâm chiếm cuộc sống. Tổ chức cố gắng cho thấy công việc điều này không mâu thuẫn nhau: lợi ích chung và kinh tế xã hội bắt đầu từ đó.”  

Trở thành doanh nhân vì lợi ích chung

“Những ông chủ và nhà quản lý xuất sắc, tận tâm, có tầm nhìn xa trông rộng ở khắp mọi nơi! Câu hỏi đặt ra là, một ông chủ theo kitô giáo thì sẽ khác biệt như thế nào?”

Bà Audrey Cattoz, người sáng lập Konnexion Lunettes Solidaires, một công ty quang học sáng tạo, bà ở Lyon, nước Pháp, mẹ của hai người con là người ủng hộ nhiệt thành cho ngành sản xuất của Pháp.

Mười lăm năm trước, khi thành lập công ty và gia nhập Hiệp hội Doanh nhân và Nhà khởi nghiệp Pháp, bà đã cam kết phát triển việc làm địa phương, dù 80% kính mắt nhập của Trung Quốc: “Mục tiêu của chúng tôi là hồi sinh các trung tâm thành phố bằng cách tạo ra các cửa hàng trong thị trấn, dùng chuỗi cung ứng ngắn và bán kính mắt trực tiếp từ các nhà máy của chúng tôi. Kể từ khi thành lập, chúng tôi đã mở chín cửa hàng tại vùng Rhône-Alpes.  Một ý tưởng khác của bà là tạo các cửa hàng thân thiện, là nơi nghỉ ngơi, nơi khách hàng được chiều chuộng.”

Cuối cùng, bà muốn nhân viên tham gia vào các quyết định của công ty, họ có thể mua cổ phần trong những điều kiện đặc biệt và trở thành đối tác. Là doanh nhân có trách nhiệm xã hội, bà tóm tắt: “Chúng tôi tôn trọng nhân viên và khách hàng, chúng tôi chăm sóc họ. Cụ thể qua việc thể hiện tình cảm với mọi người, ưu tiên sắp xếp lịch làm việc, tính đến các trách nhiệm gia đình – bà đưa ra chế độ làm việc bốn ngày một tuần, hỏi ý kiến họ về sự tồn tại của công ty và những lựa chọn cần phải đưa ra.”

Về khách hàng, chúng tôi đưa ra mức giá công bằng nhất có thể; không thúc đẩy tiêu dùng như những nơi khác: “Chúng tôi bán tròng kính theo nhu cầu của khách hàng về độ sắc nét thị giác, không cung cấp bảo hành hoặc bán cặp kính thứ hai với giá 1 âu kim nhằm mục đích có doanh thu vài trăm âu kim.” Một lựa chọn khó khăn: “Đánh đổi là tìm ra điểm cân bằng: rõ ràng là khó hơn, nhưng có thể.”

Cách tiếp cận của bà đã giúp bà được Giải thưởng Philibert-Vrau vì Lợi ích Cộng đồng, do EDC trao tặng năm 2020: “Chúng tôi đang ở giữa đại dịch Covid. Tất cả các cửa hàng đều đóng cửa, tôi dán mắt vào màn hình tự hỏi làm thế nào mình có thể trả lương cho mọi người. Tôi tuyệt vọng; giải thưởng này là ‘nụ cười của Chúa’.”

Ngày nay, bà biết không có gì là chắc chắn: “Trong ngành sản xuất kính mắt, tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu lạc quan nào vì sự cạnh tranh của Trung Quốc quá mạnh, và không có dự án công nghiệp lớn nào trong lãnh vực của tôi ở Pháp. Nếu tôi không vững vàng trong đức tin và nếu tôi không tạo được ảnh hưởng trong cộng đồng địa phương, tôi sẽ không tiếp tục cuộc phiêu lưu này.”

Năm 2024, bà được đề nghị tiếp quản việc quản lý giải thưởng này với mong muốn làm “nổi bật các thực tiễn truyền cảm hứng mà chúng tôi muốn thúc đẩy. Các mối quan tâm này được nhiều người lo cho lợi ích chung chia sẻ, đặc biệt là các nhà quản lý của Eccleria, một phong trào khác dành cho các nhà lãnh đạo chuyên nghiệp, những người tìm cách sống đức tin của mình trong việc thực hiện trách nhiệm nghề nghiệp và xã hội, để quyết định và hành động như người tín hữu kitô vì công lý, tình huynh đệ, sự tôn trọng những người dễ bị tổn thương nhất và vì Tạo Hóa. Đức tin chắp cánh cho sự đổi mới và lòng dũng cảm.” Nhiều doanh nhân vì lợi ích cộng đồng, sẽ có mặt tại Lyon ngày 13, 14 và 15 tháng 3 để chia sẻ cách họ “lấy năng lượng từ hy vọng và được thúc đẩy một cách tự nhiên bởi chính nó trong các hành động, dự án, thách thức, và thậm chí cả thất bại của họ.” Ông Pierre Guillet, chủ tịch đương nhiệm sẽ chuyển giao quyền điều hành cho người kế nhiệm, tên của người kế nhiệm sẽ được công bố lúc 6 giờ chiều ngày 13 tháng 3.

Doanh nhân và Giám đốc điều hành Kitô giáo EDC tròn 100 tuổi.

Năm 1926 đánh dấu năm thành lập Liên đoàn các ngành nghề Pháp (CFP). Lấy cảm hứng từ giáo lý xã hội của Giáo hội, phong trào kinh doanh Kitô giáo này đã quy tụ các nhà lãnh đạo và giám đốc điều hành doanh nghiệp mong muốn thúc đẩy một tổ chức kinh tế tôn trọng phẩm giá con người và đối thoại xã hội. Nó trở thành Trung tâm Kitô giáo dành cho các nhà lãnh đạo và giám đốc điều hành doanh nghiệp Pháp trước khi lấy tên hiện tại – Doanh nhân và Giám đốc điều hành Kitô giáo (EDC) – vào năm 2000, để khẳng định chiều kích tâm linh của nó. Để kỷ niệm 100 năm thành lập, hơn 3.300 người tham dự và khoảng 100 diễn giả dự kiến sẽ có mặt tại Lyon từ ngày 13 đến 15 tháng 3, với chủ đề “Sống, Tin tưởng và Hành động”.

Báo La Vie là đối tác của sự kiện này,  một số nhà tiên phong trong tư tưởng xã hội Kitô giáo sẽ được vinh danh, trong đó có nhà công nghiệp Philibert Vrau người Pháp và là người sáng lập Đại học Công giáo Lille.

Giải thưởng, được trao từ năm 2014 để vinh danh các doanh nhân cống hiến cho lợi ích chung trong các công ty của họ, mang tên ông. Một chương trình biểu diễn lịch sử đã được dàn dựng để quảng bá công việc của ông: “Philibert Vrau: Buổi diễn” sẽ được trình diễn tại Đấu trường La Mã ở Roubaix (Bắc Pháp) ngày 13 tháng 5 lúc 8 giờ tối.

“Trong ngành sản xuất kính mắt, tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu lạc quan nào vì sự cạnh tranh của Trung Quốc quá mạnh, và không có dự án công nghiệp lớn nào trong lãnh vực của tôi ở Pháp. Nếu tôi không vững vàng trong đức tin và nếu tôi không tạo được ảnh hưởng trong cộng đồng địa phương, tôi sẽ không tiếp tục cuộc phiêu lưu này.”

Các luật xã hội chịu ảnh hưởng bởi các doanh nhân Kitô giáo (nguồn: EDC)

Luật năm 1892 về lao động trẻ em, lao động nữ và giới hạn giờ làm việc.

Luật năm 1910 về lương hưu cho công nhân và nông dân.

Năm 1912: Các biện pháp bảo vệ lao động và sức khỏe.

Năm 1936: Luật Mặt trận Bình dân (nghỉ phép có lương, tuần làm việc 40 giờ, công đoàn công nhân).

Năm 1945: Thành lập Bảo hiểm Xã hội (lấy cảm hứng từ kitô giáo và giai cấp công nhân).

Năm 1946-1947: Phát triển hội đồng công nhân, y học nghề nghiệp.

Những năm 1950-1970: Củng cố sự tham gia của người lao động và đồng quản lý.nhớ lại.

Là một linh mục và nhà vật lý, ngài là cố vấn tinh thần cho Christian Business Leaders (EDC), một phong trào sẽ kỷ niệm 100 năm thành lập vào năm 2026.

Têrêxa Trần Tuyết Hiền dịch