Khi Chúa không đứng về bất kỳ quân đội nào

52

Khi Chúa không đứng về bất kỳ quân đội nào

cath.org Antonio Spadaro, 2026-04-10

Hình ảnh ghép: Đức Lêô và Tổng thống Mỹ Donald Trump. (Ảnh: AFP)

Đức Lêô có thể giúp phá vỡ xu hướng đã thống trị Giáo hội Công giáo Mỹ – ít tôn giáo như chất keo kết dính quốc gia, nhiều đức tin hơn là phê phán quyền lực

Có một cách nói chuyện không cao giọng, và chính vì lý do này, tiếng nói được nghe rõ hơn bất kỳ tiếng la hét nào. Đó là phong cách Đức Lêô đã chọn – nhưng cũng có lẽ là lịch sử đã áp đặt lên ngài – trong những tuần thế giới hầu như quen thuộc với loại ngôn ngữ hủy diệt toàn diện này.

Trong khi các chính phủ cân nhắc các mối đe dọa hạt nhân với sự thờ ơ của ai đó đang cập nhật một thông cáo báo chí, trong khi lời lẽ chiến tranh len lỏi vào các nền dân chủ phương Tây như một loại trang trí nội thất, Giáo hoàng người Mỹ đầu tiên trong lịch sử nói về hòa bình được định hình qua các cơn gió chiến tranh thổi từ đất nước của ngài.

Trong ngữ pháp đương đại, từ “hòa bình” đã trải qua một quá trình xói mòn ngữ nghĩa đặc biệt. Việc phát ngôn điều đó trước công chúng, đặc biệt là trong bối cảnh xung đột đang diễn ra, thường đồng nghĩa với việc tự đặt mình vào thế bất lợi về mặt đạo đức: ngay lập tức họ bị dán nhãn hiệu người theo chủ nghĩa lý tưởng, người có tâm hồn đẹp nhưng không hiểu được thực tế của quyền lực.

Nhưng Đức Lêô đã tìm cách thoát khỏi cái bẫy ngôn ngữ này – không phải bằng cách nâng cao giọng điệu, nhưng bằng cách hạ thấp giọng đến mức sự chính xác trong lời nói của ngài trở thành một hình thức uy quyền.

Những lần xuất hiện gần đây nhất của ngài – thông điệp Phục Sinh ngày 5 tháng 4 và bài phát biểu tại Castel Gandolfo ngày 7 tháng 4 – đánh dấu một thay đổi đáng được xem xét kỹ. Đây không còn là lời kêu gọi chung chung về hòa hợp giữa các dân tộc nữa. Trọng tâm giờ đây tập trung vào hai điểm quan trọng như bê tông cốt thép: một thuộc về thần học, một thuộc về đạo đức và pháp lý.

Thứ nhất: Không thể cầu khẩn Chúa ban ơn cho chiến tranh.

Thứ hai: mối đe dọa nhắm vào toàn bộ một dân tộc – người dân Iran, trong trường hợp cụ thể này là “không thể chấp nhận được”; các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự vi phạm luật pháp quốc tế; cuộc chiến đang diễn ra đã bị quá nhiều người gọi là bất công đến mức không ai có thể tiếp tục giả vờ như không có chuyện gì xảy ra.

Tại Dinh Castel Gandolfo, Đức Lêô đã tiến xa hơn: ngài kêu gọi về lại với bàn thương thuyết và – điều hiếm thấy ở một Giáo hoàng – ngài thúc giục người dân gây áp lực lên các đại diện chính trị của họ để cùng nhau tìm kiếm hòa bình.

Những người quan sát từ bên ngoài có thể bị cám dỗ với cách hiểu đơn giản: Giáo hoàng đối đầu với Tổng thống Trump. Đó là cách tường thuật có ưu điểm là rõ ràng, nhưng lại có nhược điểm là sai lệch. Bất cứ ai đơn giản hóa lập trường của ngài thành cuộc đấu tay đôi cá nhân đều mắc phải hai sai lầm này. Thứ nhất là về phân tích: họ không hiểu điều gì đang xảy ra. Thứ hai là về chính trị: họ trực tiếp rơi vào bẫy của những người muốn biến Giáo hoàng thành đối thủ phe phái cần phải vô hiệu hóa, một đối thủ trong cuộc cạnh tranh giành lấy dư luận Mỹ.

Giáo hoàng không chống lại một tổng thống: ngài chống chiến tranh. Chính xác hơn, ngài phản đối cơ chế tinh thần, tâm linh và chính trị làm chiến tranh trở nên khả thi, chấp nhận được và cuối cùng là không thể tránh khỏi.

Nhưng thực tế Đức Lêô là người Mỹ, ngài mang lại cho lời nói của ngài một trọng lượng mà không một Giáo hoàng tiền nhiệm nào có thể khẳng định được trong lãnh vực này. Khi một Giáo hoàng Argentina, Ba Lan hay Đức chỉ trích chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, lời phản bác luôn là: ngài không hiểu nước Mỹ, ngài nói từ bên ngoài, ngài gán cho siêu cường này những bất mãn của Thế giới thứ ba hoặc những chứng rối loạn thần kinh của Châu Âu.

Với Đức Lêô, con đường tắt này bị loại bỏ. Ngài hiểu ngôn ngữ – không chỉ theo nghĩa đen, mà còn cả những phản xạ, những cám dỗ và những cấu trúc sâu xa của quyền lực Mỹ.

Khi ngài lên án mối đe dọa hủy diệt toàn bộ một nền văn minh hoặc bác bỏ việc dùng danh Chúa để biện minh cho vũ lực, ngài đối đầu trực tiếp với thuật hùng biện răn đe, chủ nghĩa ngoại lệ quốc gia và sự can thiệp của Chúa bằng vũ lực vốn chi phối một phần đáng kể diễn từ công khai của Mỹ.

Và ngài làm như vậy mà không hề nhắc đến tên Tổng thống Trump – tấn công vào khuôn khổ đạo đức của Tổng thống với độ chính xác rất cao – làm cho lời nói của ngài, bằng một nghịch lý mà các nhà hùng biện cổ điển đánh giá cao, sẽ có hiệu quả hơn.

Có một nguyên tắc thần học duy trì toàn bộ cấu trúc này, và nó đáng được phân lập vì nó ít hiển nhiên hơn vẻ bề ngoài. Trong cách hiểu của Đức Lêô, Lễ Phục Sinh tách Thiên Chúa khỏi mọi bạo lực: Đấng Phục Sinh không đáp trả bạo lực bằng bạo lực. Đây không phải là một tuyên bố mang tính sùng kính: đây là quả bom được đặt dưới nền móng của mọi nền thần học chính trị tuyên bố dùng thiêng liêng để hợp pháp hóa vũ lực.

Trong truyền thống Kitô giáo, có một lịch sử lâu dài, quanh co và thường gây xấu hổ về những nỗ lực dung hòa Phúc Âm với gươm đao: từ chiến tranh chính nghĩa của Thánh Augustinô đến các cuộc Thập tự chinh, từ các linh mục quân đội đến việc ban phép lành cho đại bác. Đức Lêô không đi sâu vào lịch sử này để sửa chữa: ngài bỏ qua, ngài làm cho nó thành không liên quan, và chuyển cuộc thảo luận sang một bình diện của các câu hỏi: “Liệu có được phép hay không? Liệu có thể tiến hành chiến tranh nhân danh Chúa không?” và làm cho chúng mất hết ý nghĩa.

Việc so sánh với Đức Phanxicô là không thể tránh khỏi và làm sáng tỏ những điểm tương phản. Đức Phanxicô có phong cách giao tiếp gây xáo trộn, gần như bùng nổ: các hình ảnh làm thay đổi việc tường thuật với sức mạnh của một vụ nổ có kiểm soát.

 “Chiến tranh thế giới thứ ba tiến hành từng bước” là một trong những cụm từ mà khi nói lên, chúng ta không thể nghĩ về thế giới như trước nữa. Những cử chỉ của ngài – chuyến đi Lampedusa, rửa chân cho tù nhân, ôm các nạn nhân bị thương trong chiến tranh – xuyên thấu màn ảnh với cao độ không mang kịch tính vì nó xuất phát từ một khẩn cấp đích thực.

Đức Lêô hoạt động ở một cấp bậc khác. Ngài ít bùng nổ hơn, nhưng không kém phần sắc bén. Lời nói của ngài điềm tĩnh hơn, gần như khắc khổ, nhưng lại có một cường độ chính trị ngày càng sâu sắc hơn sau mỗi lần xuất hiện trước công chúng. Trong thời đại mà tuyên truyền chiến tranh dựa trên sự đơn giản hóa, một Giáo hoàng làm phức tạp vấn đề – ngài nhấn mạnh sự khác biệt giữa đe dọa và phòng thủ, giữa răn đe và xâm lược, giữa an ninh chính đáng và ý chí thống trị -, theo cách riêng của ngài, người mang tính lật đổ.

Thông điệp của Đức Lêô không phải là Lời nói của Đức Phanxicô vừa cao thượng vừa không khoan nhượng. Ngài phá bỏ khuôn khổ đạo đức của chiến tranh: ngài không chỉ nói chiến tranh là xấu xa mà còn đặt câu hỏi về những tiền đề nhận thức và tinh thần làm cho nó khả thi. Ngài cũng không dựa vào từ vựng cổ điển của “chiến tranh chính nghĩa”, khuôn khổ khái niệm từ thời trung cổ trở đi đã cung cấp cho lương tâm Kitô giáo một lý lẽ thần học tinh vi để chấp nhận bạo lực có tổ chức. Đức Phanxicô đã mở đường theo hướng này.

Sau đó là vấn đề về Công giáo Hoa Kỳ, đây là vấn đề quan trọng vì những hậu quả lâu dài của nó. Mối quan hệ giữa Rôma và người Công giáo Hoa Kỳ luôn phức tạp – được đánh dấu qua các căng thẳng cấu trúc giữa chủ nghĩa phổ quát của Giáo hội và chủ nghĩa đặc thù của quốc gia, giữa vâng phục giáo huấn của giáo hội và lòng trung thành với quốc gia.

Với Đức Lêô sự căng thẳng này không biến mất nhưng thay đổi hình dạng. Lần đầu tiên, ngài nói từ bên trong thế giới này: ngài biết các quy tắc, nghi lễ dân sự và những mâu thuẫn của nó. Ngài không phải là một người quan sát bên ngoài để phán xét: ngài là người con đặt câu hỏi.

Điều này tạo hai phản ứng. Một mặt làm tăng cường mối quan hệ: lời của Đức Lêô đến với người Công giáo Mỹ mà không bị cản trở bởi khoảng cách văn hóa, không có khả năng bị xếp vào loại hiểu lầm khác của Châu Âu hay Mỹ Latinh. Mặt khác, nó làm cho mối quan hệ trở nên chọn lọc hơn, vì nó làm nổi bật một cách rõ ràng không khoan nhượng, một rạn nứt đã hiện hữu từ lâu.

Một bên là các giám mục và hồng y – Broglio, với kinh nghiệm của một Giám mục Quân đội và chủ tịch hội đồng giám mục; với Coakley, người đã khuếch đại lời kêu gọi của Giáo hoàng chống lại sự leo thang; và Cupich, McElroy và Tobin, những người kể từ tháng 1 đã nói về cuộc tranh luận sâu sắc nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh về nền tảng đạo đức hành động của Mỹ trên thế giới – những người xem cuộc khủng hoảng hiện tại là vấn đề cơ bản. Mặt khác, có những giới giáo sĩ và chính trị gia tìm cách phi chính trị hóa hoặc hạ thấp phạm vi lời nói của Giáo hoàng, xem đó là những lời khuyên răn mộ đạo không có tác dụng thực tiễn.

Đức Lêô có thể giúp phá vỡ xu hướng đã thống trị Công giáo Mỹ trong những thập kỷ gần đây: sự chuyển đổi thành một ngữ pháp thuần túy chính trị, một bản sắc văn hóa phù hợp với những rạn nứt trong cuộc chiến văn hóa Mỹ. Chính hình tượng của Giáo hoàng đã phá vỡ khuôn mẫu: ngài là người Mỹ, nhưng không bị giới hạn trong phạm vi nước Mỹ. Ngài mang theo hình ảnh Peru, kinh nghiệm truyền giáo, gần gũi với người nghèo, và sự nhạy bén về giáo hội mang tính quốc tế không thể thu hẹp. Theo nghĩa này, triều của ngài có thể mở ra một thời kỳ mà mối quan hệ giữa Rôma và người Công giáo Mỹ trở nên ít mang tính ý thức hệ hơn và đòi hỏi nhiều hơn: ít chiến tranh văn hóa hơn, lương tâm đạo đức nhiều hơn; ít tôn giáo như chất keo kết dính quốc gia hơn, nhiều đức tin như một phê phán quyền lực hơn.

Đức Lêô: Chúa không đứng về bất kỳ đội quân nào

Tuy nhiên, ngoại giao Tòa Thánh không đi tìm chú ý, nhưng không bao giờ vắng mặt. Điều này trở nên rõ ràng khi Hồng y Christophe Pierre, Sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ xác nhận cuộc gặp ngày 22 tháng 1 giữa Hồng y Christophe Pierre và các quan chức Washington vào thời điểm mà diễn ngôn quốc tế ngày càng bị chi phối bởi logic của vũ lực, răn đe và an ninh, sự hiện diện thầm lặng của ngoại giao Vatican tại các nơi quyền lực mang một ý nghĩa đặc biệt.

Chính tại không gian nơi logic đó được định hình để giới thiệu một ngữ pháp khác một cách kín đáo. Đó không phải là ngoại giao phô trương mà là ngoại giao của sự hiện diện: lắng nghe, đối thoại, kiên trì.

Và đó cũng là tín hiệu gửi đến Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ. Tòa Thánh không tự cho mình là đối tác, nhưng là người đối thoại. Tòa Thánh không né tránh việc hợp tác với các thể chế, kể cả lực lượng quân sự.

Thay vì hướng đến những mục tiêu chung, cách tiếp cận này tìm cách định hướng sự tham gia vào “các lĩnh vực được mọi người quan tâm”. Trong bối cảnh phân cực sâu sắc, cách tiếp cận này tránh cả sự liên kết và đối đầu trực diện.

Cuối cùng, đây là sự mạch lạc: một tiếng nói công khai bác bỏ chiến tranh và một hiện diện ngoại giao không từ bỏ việc đối thoại với những người đang chuẩn bị cho nó – tìm cách, trong chừng mực có thể, ngăn chặn tính tất yếu của nó.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Khi Chúa không đứng về bất kỳ quân đội nào

Những điểm chính cần lưu ý trong cuộc gặp đầu tiên của Đức Lêô và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron

Năm xu hướng chính trong dữ liệu mới về Giáo hội toàn cầu

Khi Châu Phi trỗi dậy một lần nữa

Tầm quan trọng chuyến đi Châu Phi của Đức Lêô