Một năm sau ngày Đức Phanxicô qua đời: đánh giá di sản của ngài

45
Một năm sau ngày Đức Phanxicô qua đời: đánh giá di sản của ngài
americamagazine.org, Linh mục Dòng Tên Joe Hoover, 2026-03-12
Trong vô số bài báo tôi đã đọc suốt vài năm qua, có một câu chuyện nhỏ nhưng sâu sắc vẫn còn lại trong trí tôi, như ngôi sao dạ quang dán trên trần nhà. Khi Đức Phanxicô đi Indonesia tháng 9 năm 2024, báo The New York Times đưa tin về một nhóm phụ nữ chuyển giới ở Nam Jakarta háo hức chuẩn bị tham dự thánh lễ ngài cử hành tại sân vận động Gelora Bung Karno Stadium.
Phóng viên Emma Bubola mô tả họ khoác lông vũ, kim tuyến và chuỗi Mân Côi. Một người trong nhóm nói: “Đức Phanxicô xứng đáng nhận được bộ trang phục đẹp nhất của chúng ta.”
Bài báo diễn tả ngắn gọn: “Với nhiều phụ nữ chuyển giới sống bên lề xã hội đất nước này, Giáo Hội Công Giáo là nơi trú ẩn, và Đức Phanxicô là anh hùng riêng của họ.”  Tuy nhiên, sự bao dung của Đức Phanxicô khiến một số người tôn kính ngài, nhưng cũng làm nhiều người khác khó chịu. Những tranh luận đó xuất hiện trong nhiều khía cạnh khác của triều của ngài.
Phong cách giao tiếp tự nhiên của ngài làm nhiều người ngạc nhiên, vì Giáo Hội đã quen với những tuyên bố trang trọng và thận trọng của Rôma. Đôi khi Vatican phải ra thông cáo giải thích thêm các lời phát biểu của ngài (chính tôi cũng từng bối rối về chuyện này). Tính mục vụ và tinh thần bao dung của ngài làm nhiều người lo ngại ngài đang nới lỏng ranh giới giáo huấn của Giáo Hội, đặc biệt trong việc phân định đúng sai về luân lý.
Ngày 21 tháng 4 năm 2025, ngày thứ hai sau lễ Phục sinh, ngài qua đời tại Nhà Thánh Marta, thọ 88 tuổi, sau 13 năm làm giáo hoàng. Một cơn đột quỵ não và suy tim mạch đã kết thúc thời gian bệnh kéo dài của ngài. Trước đó một ngày, ngày chúa nhật, ngài đi xe giáo hoàng qua Quảng trường Thánh Phêrô để chào giáo dân nhân lễ Phục sinh. Tuy vậy, cái chết của ngài không gây bất ngờ. Trước đó ngài đã nằm viện 38 ngày vì bệnh hô hấp, trong đó có giãn phế quản và viêm phổi nặng.
Hàng chục ngàn người về Vatican viếng ngài. Lời chia buồn đến từ khắp thế giới. Một câu chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội được gán cho Bob Dylan, nhưng thật ra ông không viết câu đó: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô là tiếng nói của lòng thương xót trong thời đại ồn ào. Ngài bước đi khiêm nhường, nói với ngọn lửa nhiệt thành và dám yêu những người bị bỏ rơi.”
Sau thời gian tưởng niệm và những lời vinh danh ngài, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Di sản của ngài được đo bằng điều gì? Sau một năm, điều gì trở nên sáng rõ hơn? Điều gì vang lên mạnh mẽ hơn? Hiện nay, di sản nổi bật nhất của ngài, đặc biệt tại Hoa Kỳ, là bảo vệ mạnh mẽ quyền của người di dân.
Tháng 2 năm ngoái, ngài gởi thư cho các Giám mục Hoa Kỳ, lên án chính sách giam giữ và trục xuất di dân của chính quyền Tổng thống Donald Trump dự định thực hiện. Bức thư là lời phê phán rõ ràng từ vị đứng đầu Giáo Hội trước kế hoạch dùng toàn bộ quyền lực liên bang để thực hiện những hành động gây tổn hại nghiêm trọng cho con người. Ngài viết: “Tôi theo dõi sát cuộc khủng hoảng lớn đang diễn ra tại Hoa Kỳ với việc khởi động chương trình trục xuất hàng loạt. Lương tâm ngay thẳng không thể không đưa ra phán đoán phê phán và không thể chấp nhận bất cứ biện pháp nào đồng nhất tình trạng cư trú bất hợp pháp với tội phạm.”
Ngài khuyến khích giáo dân không chấp nhận những luận điệu gây kỳ thị, làm đau khổ thêm cho người di dân và người tị nạn. Ngài thừa nhận các quốc gia có quyền điều tiết di cư. Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh việc điều tiết đó không thể xây dựng trên đặc quyền của một số người và sự hy sinh của người khác.
Ngài viết: “Điều gì xây dựng trên sức mạnh thay vì trên sự thật về phẩm giá bình đẳng của mọi con người thì bắt đầu sai và sẽ kết thúc sai.” Trong bối cảnh căng thẳng tại Minneapolis và nhiều thành phố khác sau các cuộc truy quét của lực lượng di trú, câu nói của ngài đáng được nhắc lại: “Điều gì xây dựng trên sức mạnh thay vì trên sự thật về phẩm giá bình đẳng của mọi con người thì bắt đầu sai và sẽ kết thúc sai.”
Những gì xảy ra tại thành phố Minneapolis cho thấy Đức Phanxicô hiểu rõ điều ngài nói. Tiếng nói ngôn sứ của ngài trước thảm họa luân lý đang diễn ra tại Hoa Kỳ chính là nơi di sản của ngài sáng rực nhất. Tuy nhiên, bên cạnh việc mạnh mẽ bảo vệ người di dân và nhiều vấn đề khác, một điểm khác trong sứ vụ của ngài lại âm thầm nhưng đáng kinh ngạc: ngài gần gũi với cộng đồng LGBT.
Một giáo hoàng Công Giáo ngoài 80 tuổi, người ngồi trên ngai tòa thánh Phêrô và thi hành Huấn Quyền của Giáo Hội, lại trở thành anh hùng của những phụ nữ chuyển giới ở Indonesia? Điều gì đã xảy ra? Câu trả lời: lòng thương xót.
Lòng thương xót là trung tâm trong mọi lời nói và hành động của Đức Phanxicô. Lòng thương xót đó không chỉ khoan dung với tội nhân. Lòng thương xót đó còn thực thi các việc bác ái thể xác, là đem lòng trắc ẩn đến với những người sống bên lề xã hội. Ngài rửa chân cho các thiếu niên trong trại giam. Ngài cầu nguyện tại Lampedusa cho người di dân chết đuối trên Địa Trung Hải. Ngài liên lạc hằng ngày với cộng đoàn Holy Family Church khi họ bị bom đạn bao vây trong chiến tranh. Những hành động đó cho thấy ưu tiên mục vụ của ngài là: lòng thương xót.
Đối với cộng đồng đồng tính, ngài thể hiện lòng thương xót bằng những cử chỉ rất đơn giản. Một câu trả lời gồm sáu từ của ngài trước câu hỏi của một phóng viên đã tạo một bước ngoặt lớn. Khi được hỏi về linh mục đồng tính ở Vatican, ngài trả lời: “Tôi là ai mà phán xét?”
Câu nói đó mở ra một thay đổi văn hóa sâu rộng trong cách Giáo Hội nhìn cộng đồng LGBT. Ngài đón tiếp người chuyển giới. Ngài xin các mục tử rửa tội cho con của các cặp đồng tính. Ngài thực hiện nhiều cử chỉ khác nhằm bày tỏ sự gần gũi mục vụ. Nhiều tranh cãi bùng lên khi Vatican công bố Tuyên ngôn Fiducia supplicans về mục vụ của các chúc lành. Văn kiện này mở rộng ý nghĩa của phép lành linh mục và cho phép ban phép lành đơn giản cho các cặp sống trong hoàn cảnh không hợp lệ, kể cả các cặp đồng tính.
Một bộ phận trong Giáo Hội phản ứng dữ dội. Nhiều giám mục, giáo dân và hội linh mục lên án văn kiện. Hội đồng giám mục gần như toàn bộ Châu Phi tuyên bố thẳng thắn: “Các Giáo Hội Châu Phi không chúc lành cho các cặp đồng tính.”
Một giáo luật gia gọi văn kiện đó là “thảm họa rõ ràng cần phải rút lại”. Thú thật, lúc đầu tôi cũng hoài nghi. Văn kiện nói linh mục có thể chúc lành cho hai người nhưng không chúc lành cho sự kết hợp của họ. Điều này nghe rất khó hiểu. Tuy nhiên, hơn hai năm sau khi văn kiện được công bố, quan điểm của tôi đã thay đổi phần nào. Có thể tôi đã bớt căng thẳng hơn và học thêm một chút về lòng thương xót.
Những phát triển trong giáo lý, cách diễn đạt lại các nguyên tắc, hay cách nhìn mới về đời sống Giáo hội thường khó hiểu lúc đầu. Cần thời gian để nghiên cứu, cầu nguyện và đối thoại. Nền tảng thần học cho những văn kiện như vậy xuất phát từ Tông huấn Niềm vui Tin mừng Evangelii Gaudium, văn kiện quan trọng đầu tiên của triều Đức Phanxicô.
Văn kiện này cảnh báo: “Một người có thể tự hào vì mình giữ giáo lý đúng đắn nhưng lại rơi vào thái độ tự mãn và độc đoán. Thay vì loan báo Tin Mừng, họ chỉ phân loại và phán xét người khác. Khi đó họ không còn quan tâm đến Đức Kitô và tha nhân.”
Cuối cùng, cách tốt nhất để đo lường di sản của vị đại diện Đức Kitô sau một năm qua đời là nhìn vào chính chúng ta. Chúng ta đã đến gần Đức Kitô hơn chưa? Chứng tá của Đức Phanxicô có dẫn chúng ta đến gần Đấng Cứu Thế không? Chúng ta có sống với ý thức về Đức Kitô nhiều hơn không? Chúng ta có thương xót hơn không? Lòng thương xót đó không chỉ dành cho người khác. Lòng thương xót đó cũng dành cho chính chúng ta.
Chúng ta có mở rộng thế giới theo cách của Thiên Chúa thay vì bó hẹp trong cách phán xét của mình không? Chúng ta có trở thành những người mà người di dân sợ hãi khi họ tìm đến không?  Chúng ta có trở thành người mà các phụ nữ bị xã hội loại trừ sẵn sàng mặc áo đẹp nhất để gặp chúng ta không? Một cách để đo lường ảnh hưởng của Đức Phanxicô là đặt câu hỏi: Ai tìm đến với bạn? Ai tâm sự với bạn? Ai đặt trước mặt bạn những hạt kim tuyến của họ? Ai tìm thấy nơi bạn một mái nhà và nơi trú ẩn? Ai?
Têrêxa Trần Tuyết Hiền dịch