45 Khuyến nghị của Ủy ban Ciase về các vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp

46

45 Khuyến nghị của Ủy ban Ciase về các vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp

45 Khuyến nghị của Ủy Ban độc lập về các lạm dụng tình dục trong Hội Thánh (Ủy ban Ciase)

22 thành viên của Ủy ban Độc lập về Lạm dụng Tình dục trong Giáo hội Pháp (Ciase) họp lần đầu tiên ngày 8 tháng 2 – 2019, Paris © Olivier DONNARS / CIRIC

lavie.fr, 2021-10-25

Bảng chữ tắt

CEF: Hội Đồng Giám Mục Pháp, Conférence des évêques de France

CIASE: Uỷ Ban độc lập về các lạm dụng tình dục trong Hội Thánh, Commission indépendante sur les abus sexuels dans l’Église

CORREF: Hội Đồng Nam Nữ Tu Sĩ Pháp, Conférence des religieux et religieuses de France

CPPLP: Bộ phận thường trực trong Hội đồng Giám mục về ngăn ngừa và chống ấu dâm, Cellule permanente de prévention et de lutte contre la pédophilie, au sein de la CEF

CRIAVS: Trung tâm nguồn lực cho công tác chống bạo hành tình dục, Centre de ressources pour les intervenants auprès des auteurs de violencessexuelles

RFIS: Chỉ Nam cơ bản cho việc đào tạo linh mục, Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis

RGPD: Quy luật chung về việc bảo vệ các dữ liệu, Règlement général sur la protection des données.

UADF:  Liên hiệp các hiệp hội giáo phận của Pháp, Union des associations diocésaines de France

Khuyến nghị #1:

 kiểm chứng một cách có hệ thống các tiền án, tiền sự của bất cứ ai (giáo sĩ, tu sĩ, hay giáo dân) mà giáo hội uỷ nhiệm hay bổ nhiệm làm việc thường xuyên với các trẻ vị thành niên hay những người dễ bị tổn thương;

─  lo liệu để có sự chăm sóc dài hạn của các chuyên gia y tế cho những người đã bị kết tội tấn công tình dục hay lạm dụng tình dục một trẻ vị thành niên hay người dễ bị tổn thương;

 bảo đảm rằng bất cứ ai từng liên quan đến một vụ tấn công tình dục hay lạm dụng tình dục thì không được phép tiếp xúc với các trẻ vị thành niên hay những người dễ bị tổn thương trong khuôn khổ một sứ vụ của giáo hội.

 hai điểm cuối cùng này phải được áp dụng thế nào để không vi phạm các biện pháp có thể được qui định bởi quyền tư pháp.

Khuyến nghị #2:

để đo lường tốt hơn mức độ phổ biến của các vụ bạo hành tình dục trong lòng giáo hội Công Giáo tại Pháp, thiết lập một văn phòng chung tại CEF và CORREF chịu trách nhiệm thu thập, xử lý và phân tích hiện tượng này và cung cấp cho văn phòng này một bộ máy thống kê mạnh và thường xuyên chung cho các giáo phận và các tu hội;

kết nối văn phòng này với các cơ quan khác chịu trách nhiệm theo dõi bạo hành giới tính trong các cơ sở công và tư;

lo liệu cho văn phòng này có sự trợ giúp của một uỷ ban chuyên gia độc lập;

nghiên cứu thiết lập một số điện thoại gọi miễn phí trong giáo hội (hay với các tổ chức khác) cho các nạn nhân bạo hành tình dục (x. Khuyến nghị # 15).

Khuyến nghị #3:

 nhận diện mọi kiểu lạm dụng quyền lực – có thể bằng một công cụ tương tự như một bản đồ nguy cơ – hay những kiểu quá đề cao địa vị của linh mục trên tất cả những người đã rửa tội. Trong khung cảnh này, phân biệt giữa các việc thực hành được giáo hội coi là hợp pháp và các việc thực hành khác;

rà soát các hình thái thực thi tác vụ linh mục và giám mục, và những lý luận ủng hộ các hình thái ấy khiến có thể dẫn đến sự ngộ nhận;

soạn một tài liệu hướng dẫn về luân lý và các thực hành tốt cho việc đồng hành thiêng liêng, nhấn mạnh sự phân biệt giữa trách nhiệm quản trị và sự đồng hành thiêng liêng để tránh những lệch lạc;

trong mọi hình thức đào tạo và huấn giáo, cần nhấn mạnh rằng Tin Mừng phải là nguồn linh hứng cho việc đồng hành nhằm giúp đương sự đối diện với đời sống giao tiếp, chứ không phải kiềm chế hay thao túng đương sự.

Khuyến nghị #4:

 nhận ra những đòi hỏi luân lý của bậc độc thân thánh hiến, đặc biệt liên quan đến hình ảnh của người linh mục và nguy cơ gán cho họ một địa vị anh hùng hay thống trị.

đánh giá, cho giáo hội tại Pháp, những viễn tượng được mở ra bởi toàn bộ các suy tư của Thượng Hội Đồng Vùng Amazone, cách riêng lời yêu cầu «truyền chức linh mục ad experimentum cho những người đàn ông đã kết hôn đáp ứng đủ các điều kiện mà Thánh Phaolô trong Thư 1 Timôthêô đòi hỏi nơi các mục tử.» (Trích «Synode sur l’Amazonie, l’ordination d’hommes mariés s’impose dans les débats», La Croix, 10-9-2019.)

Khuyến nghị #5:

 đào sâu công trình giáo thuyết mà Hội Thánh đã bắt đầu thực thiện để hiểu rõ hơn rằng “bằng cách nào cây xấu có thể sinh trái tốt” và xác nhận rằng mọi đặc sủng sáng lập đều phụ thuộc vào đức ái;

nhận ra mọi hình thức lệch lạc của đặc sủng và mọi thái độ cao ngạo trong khi thi hành mục vụ (với một bản đồ các nguy cơ) và mọi sự lẫn lộn giữa sự quyến rũ và đặc sủng;

tìm cách sửa chữa những lệch lạc ấy;

bảo đảm việc kiểm soát hiệu quả của hàng giáo phẩm Công Giáo đối với toàn bộ các dòng tu, gồm cả những dòng mới lập không nằm trong khuôn khổ cổ điển của các tu hội thánh hiến hay các tu đoàn tông đồ;

bảo đảm rằng sự phân biệt giữa tòa trong và tòa ngoài có hiệu lực ở mọi nơi, đặc biệt trong các cộng đoàn được gọi là mới.

Khuyến nghị #6:

 bảo đảm luôn luôn nhìn nhận quyền lương tâm trong việc phân định và trong đời sống tu trì, trong bối cảnh giảng dạy tại các phân khoa thần học, các chủng viện hay các trường đào luyện giáo phận.Trong các việc giảng dạy này, cố gắng làm sáng tỏ những con đường của một lương tâm đực soi sáng bởi một trí khôn có phê phán;

sàng lọc việc giảng dạy các quy luật của các dòng tu khác nhau và các quy luật của các cộng đoàn gọi là mới, vì nó có thể làm sai trệch những đòi hỏi của đức vâng phục và của sự thinh lặng.

trong mọi hình thức huấn giáo, hãy dạy cho các tín hữu, cách riêng những người trẻ và các thiếu niên, biết luyện tập lương tâm phê phán trong mọi hoàn cảnh.

Khuyến nghị #7:

 trong mọi kiểu đào luyện và huấn giáo, hãy dạy rằng các sách Tin Mừng cho chúng ta ví dụ về một lời có sức năng động, không phải về quyền lực trên người khác, nhưng là ý muốn làm cho người khác lớn lên và thành người trưởng thành, đồng thời nhắc nhớ chúng ta rằng, như trong một cuộc trao đổi nhân loại dựa trên những cơ sở lành mạnh, lời chỉ thể được coi như là để được cho đi.

làm sáng tỏ những kiểu nói của Kinh Thánh bị lạm dụng cho những mục đích trục lợi, và hãy giúp người khác đọc Kinh Thánh với tinh thần phê phán và thiêng liêng ở mọi trình độ đào luyện.

Khuyến nghị #8:

Rà soát lại:

điều khoản giáo luật nói về việc ban phép xá giải của người đồng phạm, tự căn bản là không phù hợp đối với hành vi tấn công tình dục;

 ngôn từ của một số văn kiện của Huấn Quyền nói về tội lỗi và sự tha thứ khi liên quan đến các tội ác và sự trừng phạt, để phân biệt rõ lãnh vực luân lý với lãnh vực pháp lý. Một tội ác (délit) thì luôn luôn và đồng thời là một tội (péché), nhưng không phải tội nào cũng là một tội ác.

Trong mọi kiểu đào luyện và huấn giáo, cũng như trong thừa tác vụ mục vụ, hãy dạy:

nhu cầu ưu tiên của hình phạt hay sự đền bù vì những tội ác và hành vi xấu đã phạm chiếu theo luật của nước Cộng Hòa (Pháp) và luật của Hội Thánh.

nguy cơ biến sự tha thứ thành việc xá giải dễ dãi cho những kẻ giết người, tệ hơn nữa như là một đòi hỏi buộc nạn nhân phải tha thứ cho kẻ bách hại mình;

những gì mà nghi thức bí tích sám hối bao gồm trong lãnh vực thực hành để ngăn ngừa lạm dụng. Câu ‘Cha tha tội cho con’ không thể bị lẫn lộn với một quyền năng cá nhân của linh mục đối với con người của hối nhân;

rằng bí mật tòa giải tội chỉ nằm trong khuôn khổ của thời gian cử hành bí tích sám hối mà thôi;

Thẩm quyền Hội Thánh phải có một thông điệp rõ ràng cho các cha giải tội và các giáo dân biết rằng bí mật toà giải tội không thể huỷ bỏ bổn phận đã được dự liệu bởi bộ luật hình sự và phù hợp, theo uỷ ban, với bổn phận do luật tự nhiên của Thiên Chúa là bảo vệ sự sống và phẩm giá con người, báo cáo với các thẩm quyền tư pháp và hành chánh các trường hợp bạo hành tình dục xúc phạm đến một trẻ vị thành niên hay một người dễ bị tổn thương (x. Khuyến nghị #43).

Khuyến nghị #9: 

 hãy dạy rằng tội phạm thánh đối với một bí tích không thể làm người ta quên tội phạm thánh thứ nhất là phạm thánh đối với những con người;

rà soát lại những gì mà phát biểu về ân sủng bí tích nói là đau thương và không thể chấp nhận đối với các nạn nhân vẫn còn gắn bó với Hội Thánh khi họ nhìn thấy một linh mục đã lạm dụng mà vẫn còn tiếp tục cử hành bí tích.

Khuyến nghị #10:

 hãy dạy trong mọi việc đào luyện và trong huấn giáo:

  • rằng không nên tập trung chú ý vào “chất thể” của hành vi luân lý, hơn là đánh giá trách nhiệm của một người đối với những người khác;
  • rằng tội ác trước tiên là sự xúc phạm đến con người, bao gồm sự tôn trọng tính toàn vẹn của con người;

rà soát lại các phát biểu của sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo để dành một chỗ đứng đầy đủ cho đương sự là một nạn nhân và nhân phẩm không thể tước bỏ của họ, đây phải là đối tượng đầu tiên cần được chú ý;

khởi công viết lại những giáo huấn được rút ra từ giới răn thứ sáu nhằm mục đích đào luyện và hỗ trợ mục vụ trong các tài liệu huấn giáo của Pháp dành cho các trẻ em, thiếu niên và các dự tòng.

Khuyến nghị #11:

Rà soát:

  • tính cứng nhắc quá đáng của các qui định luân lý công giáo về những vấn đề tình dục có thể phản tác dụng trong cuộc chiến chống lạm dụng tình dục,
  • sự lựa chọn bao gồm toàn bộ đời sống tình dục con người vào một giới răn duy nhất là giới răn thứ sáu;

thúc đẩy sự suy tư học thuyết để học thuyết về tính dục không tách rời các đòi hỏi của học thuyết xã hội của Hội Thánh và phẩm giá bình đẳng của mọi con người.

Khuyến nghị #12:

Củng cố cái hiện hành

  1. Duy trì các cố gắng gây ý thức và thông tin trong lòng giáo hội mà không làm mất tư cách của các thành viên Hội Thánh, chọn ưu tiên các phương cách gây ý thức, cả gián tiếp, được gợi hứng bởi các phương thức thăng tiến các quyền lợi của những con người, đặc biệt các quyền của trẻ em. Mặc dù khó đánh giá tác động của chúng, các biện pháp này chỉ có thể làm lợi cho sự phát triển của tính khác biệt trong lòng hth và các thái độ phòng ngừa. Ngoài ra, chúng có thể chứng minh rằng tổ chức Hội Thánh có lập trường rõ ràng chống các lạm dụng và cởi mở lắng nghe tiếng nói của các nạn nhân. Không phải là tạo ra một bầu khí ngờ vực chung chung, nhưng trái lại, là thiết lập một sự tin cậy thuận lợi để người khác dễ dàng nói ra.
  2. Phát hành những bản báo cáo thường kỳ với những tư liệu chắc chắn, có kế hoạch, và có thể hướng tới việc phát hành một báo cáo hằng năm. Việc CEF công bố báo cáo hai năm một lần là một biện pháp mạnh được chọn năm 2016. Tuy nhiên, nội dung các báo cáo này có thể phải bao quát hơn, ít nặng về sự kiện và nhìn lại quá khứ, và chọn cách tiếp cận hướng tới các mục tiêu hơn. CEF và có thể cả CORREF cũng sẽ loan báo các kế hoạch hiện có và dự kiến được tung ra của họ, cũng như bước tiến của các kế hoạch ấy. Các Hội Đồng này sẽ xác định các mục tiêu phải đạt được, và cả các cam kết với các bên thứ ba, đặc biệt các nạn nhân và các hiệp hội đại diện cho các nạn nhân. Họ sẽ xác định một cách có hệ thống hơn những việc thực hành tốt được nhận ra trong lãnh vực này, nhờ sự phản hòi được khuyến khích bởi các giới chức chính quyền, và phối hợp với các hiệp hội nạn nhân nếu cần.
  3. Khởi động một suy tư về hệ thống tiếp đón và lắng nghe các nạn nhân, giữ vững nguyên tắc nhưng cách thức thực hiện cần được duyệt lại (xem dưới đây).

Khuyến nghị #13:

Thiết lập, cho những người chịu trách nhiệm chính trong tổ chức của Hội Thánh tại Pháp, ví dụ cho mỗi giám mục mới được bổ nhiệm hay mỗi bề trên cao cấp mới được bầu, các chương trình đào tạo về các qui trình kiểm soát trong nội bộ và bên ngoài, và khai triển các phương thức riêng của Hội Thánh trong việc xử lý rủi ro và thích nghi với cách thức hoạt động của Hội Thánh.

Khuyến nghị #14:

Các biện pháp kiểm soát lạm dụng được chọn dựa trên cơ sở của một cách tiếp cận định tính. Các biện pháp hiện hành và tương lai phải được dựa nhiều hơn trên cơ sở hiệu quả mong muốn và phải được đánh giá về tính hiệu quả và các kết quả của chúng.

Khuyến khích việc tiếp thu các tham chiếu được chia sẻ giữa các giáo phận với các linh mục và giáo dân trong Hội Thánh, ngược với những mệnh lệnh đôi khi gây ra sự hiểu lầm và mất tư cách.

Khuyến nghị #15:

Cải cách các phương thức tiếp đón và lắng nghe được Hội Thánh đề nghị bằng cách hướng tới một hệ thống hỗn hợp (nội bộ/bên ngoài, quốc gia/địa phương).

Hệ thống này có thể bao gồm việc thiết lập những điểm phối hợp duy nhất (điện thoại, e-mail, thư bưu chính) với mức độ dễ nhìn thấy được tăng cường, và sẽ được xử lý bởi những người nghe chuyên nghiệp trong khuôn khổ của một sự hợp tác được kết nối bởi Hội Thánh. Các chuyên gia nghe này có thể hướng các cuộc gọi tới các hệ thống tiếp nhận và lắng nghe trong nội bộ giáo hội (các văn phòng của CEF, các đơn vị của các giáo phận, các dòng tu, các cộng đoàn mới) hay ở bên ngoài giáo hội (được hoạt động bởi các hiệp hội hỗ trợ nạn nhân).

Hệ thống quốc gia có thể được giám sát bởi một ê-kíp hỗn hợp liên ngành (đại diện giáo hội, đại diện các nạn nhân, các chuyên gia y tế). Các giáo phận sẽ giữ lại một khả năng lắng nghe tại chỗ cho những người trực tiếp đến với họ, có thể là qua các bộ phận của mô hình hiện hành, hay là trực tiếp với giám mục.

Khuyến nghị #16:

Khi thấy thích hợp, ưu tiên cho các bộ phận hỗn hợp ở cấp liên giáo phận hay các tổ chức đối tác giữa các giáo phận, để tập hợp chung các nguồn lực, thiết lập các lãnh vực can thiệp thuận lợi cho các bộ phận và mạng lưới thành viên của các bộ phận. Bảo đảm duy trì một mạng lưới lãnh thổ dày đặc để cung cấp các giải pháp cho việc tiếp đón và lắng nghe.

Khuyến nghị #17:

Tái khẳng định rằng các bộ phận này là những cơ cấu tiếp đón và lắng nghe, nhiệm vụ của chúng sẽ kết thúc khi việc chăm sóc hay tư vấn pháp lý bắt đầu. Khi làm việc này, hãy khuyến khích các bộ phận soạn ra những bản liệt kê các thẩm quyền tại địa phương để hướng dẫn các nạn nhân đến những giải pháp thoả đáng (các nhà hoạt động xã hội, các chuyên viên y tế, các luật gia v.v…).

Tăng cường công việc của các bộ phận để ưu tiên hướng tới các nạn nhân. Bộ phận này không có nhiệm vụ chăm sóc cho những người là tác giả của hành vi lạm dụng tình dục; nhiệm vụ này sẽ thuộc kế hoạch riêng ở cấp các giáo phận, để có một sự chăm sóc thỏa đáng, đặc biệt với các đối tác bên ngoài (ví dụ CRIAVS*).

Chính thức hóa nhiệm vụ của các bộ phận trong vấn đề dự phòng, kết nối với những người đặc trách của giáo phận về cuộc chiến chống lại nạn ấu dâm. Các bộ phận được chỉ định vào nhiệm vụ này trên thực tế và thi hành nhiệm vụ bằng những cách khác nhau (can thiệp với các chủng sinh và linh mục, khởi xướng các kế hoạch, tổ chức các hội thảo/hội nghị).

Làm sáng tỏ nhiệm vụ tư vấn cho các giám mục: các bộ phận không phải luôn luôn là những phương tiện để tư vấn cho các giám mục hữu trách (đặc biệt khi liên quan đến các vấn đề pháp lý); vả lại, ngay cả định nghĩa về chức năng tư vấn cũng có vẻ như không xác đáng và là nguyên nhân gây ra những mập mờ.

Khuyến nghị #18:

Ưu tiên các bộ phận gồm hoàn toàn là giáo dân để hạn chế nguy cơ hiểu lầm cho các nạn nhân và nguy cơ phát sinh các căng thẳng về luân lý cho những tình nguyện viên tham gia trong bộ phận.

Mặt khác, bảo đảm các bộ phận này có những tiếp xúc với giám mục giáo phận, tổng đại diện hay các linh mục, tu sĩ được nhận biết trong tòa giám mục để nêu lên cho họ những câu hỏi, để hướng dẫn các nạn nhân muốn đến gặp các linh mục, để xin lời khuyên, thậm chí xin sự tham gia của một giáo sĩ trong các cuộc thẩm vấn khi được yêu cầu bởi người được nghe.

Khuyến nghị #19:

Bảo đảm các bộ phận lắng nghe được thấy rõ hơn bởi một sự truyền thông đều đặn trong giới báo chí địa phương và bởi các kênh của giáo hội (các bản thông báo được niêm yết và phân phát, các trang mạng).

Giúp hiểu biết nhiều hơn về các phương tiện tiếp xúc với các bộ phận và cho các thành viên của các bộ phận này kiểm soát hoàn toàn các công cụ được thiết lập để liên hệ với các nạn nhân (ví dụ, hộp thư điện tử chỉ được tiết lộ bởi các thành viên của bộ phận này).

Khuyến nghị #20:

Tăng cường sự đồng hành của các bộ phận lắng nghe nhờ tổ CPPLP*, hay đơn vị kế nhiệm tổ này.: Theo ủy ban, có vẻ như các hành động mạnh hơn hiện nay, thí điểm (chia sẻ đường hướng), sinh động hóa (chia sẻ thông tin, liên kết thành mạng lưới) và hỗ trợ (thiết lập một bộ chức năng, đào luyện, hỗ trợ truyền thông…) có thể sẽ giúp ích lẫn nhau.

Biến các bộ phận lắng nghe trở thành một nguồn lực chuyên môn cho CPPLP hay một đơn vị tương lai: các bộ phận và thành viên của chúng có những thẩm quyền và khả năng chuyên môn vô cùng phong phú, có thể có ích cho CPPLP một cách đúng lúc (ví dụ để thực hiện một cuộc kiểm tra sâu về chức năng của các bộ phận và sự tiến triển có thể có của chúng).

Khuyến nghị #21:

Cung cấp sẵn các bản văn về tổ chức cho các bộ phận lắng nghe, để làm rõ các nhiệm vụ của họ, chỗ đứng của họ trong giáo phận, các phương tiện vật chất (ngân sách, mặt bằng, dụng cụ truyền thông). Để đạt mục đích này, đề nghị ở cấp CEF một văn bản mẫu tập hợp những yếu tố thiết yếu, đồng thời chừa ra một lề trang đánh giá cho các giáo phận để thích nghi với hoàn cảnh địa phương.

Hoàn bị các điều trên bằng những thủ tục hoạt động và các qui định nội bộ đơn giản: các cách thức trả lời các đòi hỏi (hạn chót, định dạng…), các qui tắc về sự thận trọng và sự riêng tư, các thủ tục pháp lý (tôn trọng qui tắc RGPD,* tính kế thừa của thẩm quyền pháp lý, các yếu tố cơ bản của giáo luật), việc đào luyện, đặc biệt về tâm lý học, cho những người chuyên trách công việc lắng nghe.

Khuyến nghị #22:

Để bảo đảm có sự nhất quán hoàn toàn với nghị quyết của Hội nghị toàn thể của HĐGM ngày 26-3-2021, cần thực hiện một cuộc kiểm tra sâu về hoạt động của các bộ phận và các đường hướng khả dĩ của họ.

Các công việc được thực hiện bởi Uỷ Ban CIASE* đã cho thấy sự phong phú của hệ thống hiện hành, các tiềm năng chưa được khai thác và các câu hỏi chưa có câu trả lời, vì thế cần phải giải quyết chúng trước khi hệ thống này có thể được cải tổ.

Khuyến nghị #23:

Đối với toàn bộ thời kỳ được Uỷ Ban phân tích, bên cạnh trách nhiệm hình sự và dân sự vì lỗi của những người tấn công tình dục và có thể của cả những người hữu trách của giáo hội, cũng cần phải nhìn nhận trách nhiệm dân sự và xã hội của giáo hội tách biệt với lỗi cá nhân của những người hữu trách.

Khuyến nghị #24:

Nhìn nhận trách nhiệm có hệ thống của Hội Thánh. Về điểm này, cần xem xét những nhân tố đã góp phần vào sự thất bại của thể chế. Nhìn nhận rằng vai trò xã hội và thiêng liêng của Hội Thánh đặt nặng trên Hội Thánh một trách nhiệm đặc biệt trong lòng xã hội mà Hội Thánh là một thành phần có liên can.

Khuyến nghị #25:

Nhìn nhận trách nhiệm dân sự của Hội Thánh và trên cơ sở này đào sâu một sự trao đổi hàng ngang với toàn thể xã hội.

Khuyến nghị #26:

Thiết lập các cơ chế cụ thể cho sự nhìn nhận này: các nghi lễ công cộng; các cuộc cử hành phụng vụ tưởng nhớ những nỗi đau khổ đã gây ra; tưởng nhớ các nạn nhân và các nỗi đau của họ; khả năng giáo hội chất vấn những người lạm dụng tình dục và cung cấp thông tin của các nạn nhân.

Khuyến nghị #27:

Thiết lập một công cụ phục hồi công bằng qua một thủ tục hình sự đối với các vụ bạo hành tình dục, đặc biệt trong giáo hội, trong khi tách biệt nó một cách rõ ràng với các thủ tục trung gian vốn phải bị gạt sang một bên để có sự đền bù các hậu quả của các việc bạo hành này.

Khuyến nghị #28:

Chấp nhận một công cụ điều tra có hệ thống của cảnh sát, tiếp theo là một cuộc trao đổi của các nạn nhân với một thẩm phán khi thời hiệu hình sự đã hết hạn.

Khuyến nghị #29:

Phối hợp chung các thủ tục giữa các viện công tố và các giáo phận, bằng cách giáo phận cam kết chuyển giao các báo cáo và viện công tố cam kết tiến hành cuộc điều tra trong một thời gian ngắn (x. Khuyến nghị # 42).

Khuyến nghị #30:

Thiết lập trong giáo hội một quy trình xác minh các cáo buộc về bạo hành tình dục, khi người bạo hành đã qua đời hay thời hiệu tố tụng đã hết.

Khuyến nghị #31:

Tính riêng mức bồi thường thiệt hại cho mỗi nạn nhân, mà không dự liệu một sự đền bù toàn bộ theo nghĩa pháp lý.

Vì thế, phải dự liệu một cách tính nhắm tới sự đền bù những thiệt hại cụ thể của mỗi nạn nhân trực tiếp, và, trong trường hợp nạn nhân này đã chết, thì đền bù cho nạn nhân gián tiếp.

Ưu tiên chọn cách tính nhắm vào các thiệt hại phải chịu hơn là đối chiếu với các loại hành vi phạm tội.

Khuyến nghị #32:

Về vấn đề đền bù tài chánh, giao cho một cơ quan độc lập bên ngoài giáo hội ba nhiệm vụ là: tiếp nhận các nạn nhân, cung cấp một sự hòa giải giữa họ, những người bạo hành (nếu còn sống và chấp nhận tiến trình này)và các tổ chức mà họ thuộc về lúc xảy ra hành vi bạo lực, và làm trọng tài phân xử những tranh chấp không thể giải quyết một cách thân thiện.

Khi không có cơ chế này mà ủy ban cho là đơn giản và rõ ràng nhất, cơ quan này có thể khác biệt cho các giáo phận và cho các dòng tu, miễn là họ áp dụng cùng những quy luật và những nguyên tắc đền bù.

Khuyến nghị #33

Các khoản tiền đền bù các nạn nhân được lấy từ tài sản của người bạo hành và của Giáo Hội Pháp, thông qua quỹ ủng hộ mà CEF đã thiết lập và thông báo, gồm những khoản đóng góp của UADF* và của CORREF.

Khi không có cơ chế này, phải thiết lập hai quỹ áp dụng cùng những quy luật và nguyên tắc đền bù như đã nói trên.

Loại bỏ việc kêu gọi đóng góp từ các tín hữu và xã hội hóa tài chánh.

Khuyến nghị #34:

Uỷ ban nghĩ rằng nên rà soát:

cơ chế phẩm trật của Hội Thánh Công Giáo trước những căng thẳng nội tại trong nhận thức về chính mình: giữa hiệp thông và phẩm trật, giữa quyền kế vị tông đồ và tính đồng nghị, và nhất là giữa sự khẳng định quyền bính của các chủ chăn và thực tế tại địa phương, vốn đang ngày càng chịu ảnh hưởng bởi các guồng máy dân chủ;

sự tập trung vào tay cùng một người các quyền ra lệnh và quản trị, dẫn đến sự nhấn mạnh việc thi hành quyền bính khắt khe, và nhất là việc tôn trọng sự phân biệt giữa toà trong và toà ngoài;

sự đồng hóa quyền năng bí tích với quyền lực.

Khuyến nghị #35:

Uỷ ban xét thấy hữu ích cho giáo hội:

khởi động và khai triển tiến trình đánh giá và kiểm soát nội bộ với các uỷ ban lâm thời có cơ chế vận hành nhẹ nhàng;

khai triển trong khuôn khổ này một bản đồ nguy cơ;

cung cấp những sự đào luyện và tổ chức hướng tới mục đích này;

tăng cường động năng của việc gặp gỡ hằng năm với giám mục, tổng đại diện, hay các bề trên dòng cấp cao trong tiến trinh đồng hành với mỗi linh mục và mỗi tu sĩ.

Khuyến nghị #36: 

Uỷ Ban cho rằng, liên quan đến nguyên tắc bình đẳng về nhân phẩm, phải tăng cường mạnh mẽ sự hiện diện của các giáo dân nói chung và của các phụ nữ nói riêng trong những lãnh vực làm quyết định của Hội Thánh Công Giáo.

Công việc này bao hàm một sự đánh giá trước tình hình và xác định những mục tiêu cho một lịch trình thực hiện.

Khuyến nghị #37:

Để xác định, trong bộ giáo luật hình sự, tính chất của các hành vi bạo hành tình dục đối với các trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, cần thay thế việc tham chiếu giới luật thứ sáu (“Ngươi không được ngoại tình”), bằng việc tham chiếu giới luật thứ năm (“Ngươi không được giết người”), để phù hợp với cắt nghĩa của điều giáo luật 1398 §1 và để ngăn ngừa đi trệch quy tắc này.

Khuyến nghị #38:

Xác định trong giáo luật toàn bộ những vi phạm tình dục đối với một trẻ vị thành niên hay một người dễ bị tổn thương, bằng cách làm nổi bật những yếu tố cấu thành từng sự vi phạm một và các hình phạt tương ứng, để làm cho điều luật này dễ đọc, làm nổi bật mức độ nghiêm trọng của các lỗi phạm, và phù hợp với cách cắt nghĩa của các quy tắc tham chiếu.

Khuyến nghị #39:

Soạn và phổ biến một sưu tập các quyết định không được nêu tên của các thẩm quyền tài phán áp dụng giáo luật, ít là trong lãnh vực các vi phạm được nghiên cứu bởi uỷ ban.

Khuyến nghị #40:

Thiết lập ngay không chậm trễ toà hình sự giáo luật liên giáo phận đã được loan báo vào tháng 3 năm 2021, lưu tâm tới tính hiệu quả và tầm mức thẩm quyền và tính vô tư của tòa này, nhất là bởi tính đồng nghị thực sự và các thành viên không chỉ gồm các chuyên gia là linh mục, nhưng cả các thẩm phán giáo dân được đào tạo đặc biệt.

Khuyến nghị #41:

Làm cho thủ tục hình sự giáo luật phù hợp với các quy tắc quốc tế về việc xét xử công bằng, đặc biệt bảo đảm cho những người yếu thế quyền kháng án, đặc biệt bằng khả năng được tiếp cận một toà án và được tự do chọn luật sư cho mình.

Khuyến nghị #42:

Nhấn mạnh nơi toàn thể các giám mục lợi ích của các phương thức như đã được ký kết ngày 5 tháng 9 năm 2019 giữa tổng giám mục và uỷ viên công tố Paris, hay bản ký kết năm 2020 tại khu nghỉ dưỡng của tòa phúc thẩm Grenoble, về sự tố giác những vi phạm tình dụcđược gửi cho toà tổng giám mục và việc phổ biến các thông tin liên quan đến các thủ tục pháp lý của việc tố giác này (x. Khuyến nghị #29).

Khuyến nghị #43:

Các giới chức của Hội Thánh cần truyền đi một thông điệp rõ ràng để chỉ ra cho các cha giải tội và các tín hữu hiểu rằng bí mật của tòa giải tội không thể xoá bỏ bổn phận được dự liệu bởi bộ luật hình sự và theo uỷ ban, phù hợp với bổn phận của luật tự nhiên của Thiên Chúa là bảo vệ sự sống và phẩm giá con người, phải tố cáo với các nhà chức trách tư pháp và hành pháp những trường hợp bạo hành tình dục gây ra cho một trẻ vị thành niên hay một người dễ bị tổn thương (x. Khuyến nghị #8).

Khuyến nghị #44:

Đồng hành

Trong mối quan hệ giữa ứng sinh linh mục và vị linh hướng, làm sáng tỏ các tâm sự thầm kín bị che đậy bởi bí mật.

Nắm bắt các khả năng được cung cấp bởi RFIS* và Ratio nationalis** để tăng cường việc đào tạo những người phụ trách đào luyện trong lãnh vực đồng hành về nhân bản (phân biệt với những gì thuộc về việc xây dựng ơn gọi và những gì liên quan đến việc chuẩn bị cho một chức vụ).

Khai thác những kích thích của RFIS và Ratio nationalis để tiến hành một cuộc đánh giá tâm lý các ứng sinh linh mục trước khi vào chủng viện và cống hiến cho các ứng viên linh mục những điều kiện tốt nhất để họ nhận được một sự theo dõi tâm lý cần thiết cho việc đào luyện giáo sĩ.

Đào luyện

Khuyến khích sự cởi mở với các khoa học nhân văn và các nhà chuyên môn khác nhau, các nơi đào luyện “bên ngoài những bức tường” cho các chủng sinh.

Trình bày một cách có hệ thống và chính thức việc đào luyên ban đầu và đào luyện thường xuyên của các linh mục, tu sĩ và giáo dân tham gia vào Hội Thánh trong khung cảnh đào luyện cộng đồng (LEME).

Thiết lập các phương pháp đánh giá các khung cảnh đào luyện mới này được cung cấp trong mỗi Chỉ Nam (cơ bản và quốc gia).

Tăng cường đào luyện:

sự hiểu biết về những động lực và thách thức của sự phát triển và tình cảm của các trẻ em và thanh thiếu niên;

các quyền, theo giáo luật và dân luật (đặc biệt các quyền của trẻ em) trong những năm đào luyện ở chủng viện hay tập viện.

Phát triển tinh thần phê phán và các khả năng suy tư và khai triển của các chủng sinh hay tập sinh, nhất là về các vấn đề quyền bính và vâng phục.

Chia sẻ các kinh nghiệm và phương pháp sư phạm với các trung tâm đào luyện khác. Khuyến khích sự hỗ trợ của các trường đại học và các thời gian đào luyện ngoại trú (trong các trường công hỗn hợp nam nữ, trong các nhóm sinh viên).

Nghĩ đến các chương trình đào luyện về phòng ngừa bạo hành tình dục được tổ chức chung với các hiệp hội nạn nhân. Mời các chuyên viên y tế tham gia các chương trình huấn luyện này.

Đánh giá và tuyển sinh

Hệ thống hóa các qui trình đánh giá bằng các bản câu hỏi chính xác gửi cho các chuyên gia đánh giá.

Trình bày rõ ràng và có hệ thống các câu trả lời và các ý kiến cho các ứng sinh nào thấy mình bị từ chối tiếp nhận vào các cơ cấu phân định và đào luyện, hay các bước khác nhau tiến tới chức linh mục.

Khuyến khích việc chia sẻ chính thức các bản đúc kết nhận xét với các chủng sinh (kể tên những khó khăn khi chúng được nhận thấy).

Bảo đảm có một sự theo dõi bằng văn bản về những chặng đường của các ứng sinh và cung cấp thông tin giữa các giáo phận, các chủng viện và nhà dòng để họ biết được những câu trả lời tiêu cực được nói cho các ứng sinh tội nghiệp.

Đào luyện liên tục

Trong khuôn khổ đào luyện liên tục của hàng giáo sĩ, cung cấp các khoá học liên quan đến cuộc chiến chống nạn ấu dâm (luật pháp, các công cụ trả lời, các kế hoạch phòng ngừa) và việc kiểm soát.

Chú ý đặc biệt tới việc đào tạo những người phụ trách đào luyện và các giám thị trong các chủng viện để cung cấp cho họ những công cụ cần thiết cho một sự đồng hành tốt đẹp về thiêng liêng hay chuyên nghiệp.

Thích nghi buổi tiếp nhận các linh mục thuộc diện fidei donum, bằng cách tích hợp các buổi họp liên quan đến cuộc chiến chống ấu dâm với các khoá học chuyên biệt về việc thi hành quyền bính và thái độ đúng đắn trong các mối quan hệ giữa người với người.

Khuyến khích các nhóm giao lưu giữa các linh mục liên quan đến việc thi hành sứ vụ của họ với các trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, để các qui luật về thực hành và việc thích nghi phong cách có thể mang lại lợi ích từ trí thông minh tập thể giữa những người đồng trang lứa.

Dựa theo luật sức khoẻ năm 2019 và sắc lệnh định nghĩa về hoạt động xã hội năm 2017, hãy tích hợp sự đóng góp của các tín hữu và các nạn nhân vào các hệ thống đào luyện ban đầu và liên tục.

Khuyến nghị #45:

Tăng cường các chính sách dự phòng, bằng cách hệ thống hóa chúng và phổ biến chúng cho càng nhiều người biết càng tốt.

Mời gọi các thành phần khác nhau trong giáo hội (các linh mục, các giáo dân dấn thân, các con chiên giáo xứ) tham gia vào các dạng thức khác nhau được thích nghi (đào luyện, gây ý thức, thông tin).

Khuyến khích các sáng kiến và các hoạt động của giáo xứ giúp cho các trẻ em có một chỗ đứng như là những chủ thể nắm giữ các quyền lợi và các sự hiểu biết (chứ không phải chỉ là những người tiếp nhận giáo lý), theo mô hình suy tư được tổ chức bởi Thành Phố Paris (với Hiến Chương Paris cho các quyền lợi của trẻ em được chính các trẻ em soạn ra năm 2020).

Bảo đảm có sự nhất quán giữa việc sắp xếp khu vực sinh sống và làm việc của các linh mục và tu sĩ và những đòi hỏi của sự cảnh giác, bao gồm:

tách biệt phòng ngủ và nơi tiếp khách;

khoảng cách thể lý giữa linh mục và giáo dân khi xưng tội.

Thiết lập một hệ thống trong mọi khu vực mà mỗi linh mục hay tu sĩ có tiếp xúc thường xuyên với các trẻ em và thanh thiếu niên:

biết các bổn phận phải báo cáo cho hệ thống pháp luật (không chỉ bổn phận báo cáo trong nội bộ);

có một người tham khảo để trao đổi về các tình huống mập mờ hay nguy hiểm;

có một không gian để suy tư và xét lại thường xuyên về các việc thực hành của mình, giúp cho có sự cảnh giác liên tục về những vấn đề nhậy cảm (tiếp xúc cơ thể, thời biểu và địa điểm làm việc với một người trẻ, các hình thức hẹn gặp…);

có thể biết sâu về bản báo cáo của CIASE và có thể trao đổi về các lời dạy rút ra từ đó vào những lúc suy tư có sự hiện diện của những người ngoài thuộc bên thứ ba.

Thiết lập một cuộc họp bắt buộc hằng năm trong mỗi giáo phận hay mỗi cộng đoàn dòng tu, giúp cho mọi linh mục hay tu sĩ có một sự hiểu biết về bản báo cáo hoạt động của tổ CPPLP hay của văn phòng quốc gia được mời kế nhiệm nhóm này, và làm cho cuộc họp trở thành một cơ hội cho việc xây dựng tập thể các biện pháp đền bù và dự phòng.

Linh mục Đa Minh Ngô Quang Tuyên dịch