Đạo đức giả trong Giáo hội là “đặc biệt đáng ghê tởm”

152

Đạo đức giả trong Giáo hội là “đặc biệt đáng ghê tởm”

Buổi tiếp kiến chung hàng tuần ngày thứ tư 25 tháng 8 tại Hội trường Phaolô VI

fr.aleteia.org, Ban biên tập, 2021-08-25

Trong bài giáo lý hàng tuần ngày thứ tư 25 tháng 8 tại Hội trường Phaolô VI, Đức Phanxicô đặc biệt lên án nạn đạo đức giả trong Giáo hội: “Đạo đức giả là gì? Chúng ta có thể nói đạo đức giả là sợ hãi sự thật.” Ngài lấy làm tiếc cho nạn đạo đức giả trong Giáo hội, nơi nó “đặc biệt đáng ghê tởm”.

Đức Phanxicô tiếp tục bài giáo huấn Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Galat, ngài chú giải đoạn Thánh Phêrô bị trách cứ vì đã cư xử không tốt. Tại Antiokia, Thánh Phêrô dùng cơm với người ngoại đạo, điều mà Lề Luật cấm. Nhưng trước những tín hữu gốc do thái, ông đã không ăn vì sợ bị chỉ trích, Đức Phanxicô tóm tắt, ngài đưa ra hiểu lầm về mối quan hệ giữa luật pháp và tự do. Một vấn đề không có tên nào khác hơn là đạo đức giả.

 Người đạo đức giả là người không biết yêu

 Trong bài giáo lý hôm nay, Đức Phanxicô đặc biệt lên án nạn đạo đức giả. “Đạo đức giả là sợ sự thật, là sống với mặt nạ, là không có can đảm đối diện với sự thật, là không yêu thương thật sự.” Và ngài nhắc đi nhắc lại: “Người đạo đức giả là người không biết yêu”.

Công kích tai họa của sự thật nửa vời và tính giả dối hai mặt, Đức Phanxicô có tài ứng biến, ngài bắt chước nụ cười ngoài mặt mà chúng ta thấy đây đó trong đời sống hàng ngày của mình.

Vì đạo đức giả là loại “vi-rút” lây lan khắp nơi. Nó thường lan mạnh trong giới nghề nghiệp hay trong đời sống chính trị. Nhưng căn bệnh này cũng lan rộng trong Giáo hội, nơi nó “đặc biệt đáng ghê tởm, vì nó gây nguy hiểm cho sự hiệp nhất”

Ngài lấy làm tiếc: “Thật không may, nạn đạo đức giả tồn tại trong Giáo hội”, Đức Phanxicô nói ngoài văn bản đã soạn: “Bao nhiêu là tín hữu kitô, bao nhiêu là sứ vụ viên đạo đức giả.” Ngài kết luận: “Chúng ta không nên sợ phải chân thành, chúng ta phải nói sự thật, cảm nhận sự thật và tuân theo lẽ thật, chỉ có cách này chúng ta mới có thể yêu thương.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch