Esther Duflo: “Giúp người nghèo không làm cho họ lười biếng”

66

Esther Duflo: “Giúp người nghèo không làm cho họ lười biếng”

Bà Esther Duflo và chồng, ông Abhijit V. Banerjee trước nhà của họ ở Boston ngày 14 tháng 10 – 2019, ngày giải Nobel kinh tế được trao cho họ. © Bryce Vickmark/MIT

lepelerin.com, Frédéric Niel, 2020-06-18

Kinh tế gia người Pháp-Mỹ Esther Duflo, giải Nobel kinh tế năm 2019 khi chỉ mới 46 tuổi cống hiến đời mình để chống nạn nghèo đói. Các nghiên cứu của bà trên khắp thế giới đã mang đến các lý do rất cụ thể để hy vọng.

Tình trạng cách ly đã làm tê liệt nền kinh tế. Kinh tế có thể tái khởi động nhanh chóng để giới hạn các thiệt hại xã hội, nhất là cho những người nghèo nhất không?

Bà Esther Duflo – Cuộc khủng hoảng không phải do nguyên nhân nội bộ kinh tế (thị trường chứng khoán sụp đổ, sản xuất thừa mứa..v.v) nhưng do một yếu tố bên ngoài – dịch bệnh. Do đó sự phục hồi có thể nhanh chóng, như nước Nhật và nước Đức sau năm 1945 và Việt Nam sau năm 1975.

Nhưng tôi thấy ba rủi ro mà cuộc khủng hoảng có thể kéo dài vì trước hết nó đánh vào những chuyện bấp bênh nhất. Thứ nhất chúng ta chưa có thuốc chủng ngừa, hoặc nếu có thì không phân phối nhanh cho mọi người được. Thứ nhì, việc tiêu thụ không khởi động lại và các vụ phá sản liên tiếp dính chùm. Thứ ba, người dân phẫn nộ vì sự bất lực của các nhà lãnh đạo, họ để mình bị quyến rũ bởi các ý thức hệ cực đoan và dùng đến bạo lực.

Bây giờ bị chỉ trích, sự tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới vẫn là phương tiện tốt nhất để giảm nạn nghèo đói không?

Trên thực tế ba thập kỷ tăng trưởng vừa qua đã đi kèm với sự phân chia làm hai con số người nghèo trên thế giới. Nhưng mối liên kết giữa hai hiện tượng vẫn cần được chứng minh một phần lớn! Dù tất cả các lý thuyết của các nhà kinh tế, khi chúng ta quan sát một cách cụ thể các tình huống, thì thường chúng ta không thể xác định được yếu tố làm tăng trưởng ở chỗ này mà không làm tăng trưởng ở chỗ kia. Nhất là có vẻ như sự tăng trưởng này vừa không cần thiết vừa không đủ để đảm bảo an sinh cho người dân. Nó có thể đạt được các mục tiêu cụ thể trong giáo dục, y tế…, dù không có tăng trưởng đáng kể, với điều kiện phải tập trung vào chúng. Ngược lại, tăng trưởng ở Ba Tây từ lâu đã mạnh mẽ, nhưng đã đào sâu bất bình đẳng một cách không thể chịu đựng được.

Bà có thể giải thích đơn giản những gì giải Nobel đã mang lại cho bà?

Chúng tôi ba người nhận giải này: Michael Kremer (giáo sư Đại học Harvard), Abhijit V. Banerjee và tôi, chúng tôi là đồng sáng lập phòng thí nghiệm nghiên cứu về nạn nghèo đói J-PAL ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), chúng tôi làm theo phương pháp y khoa. Để tìm thuốc chủng ngừa – như thuốc chủng ngừa Covid-19 chẳng hạn -, thì phải thử nghiệm trên nhiều phân tử khác nhau, trên các nhóm đối chứng với tất cả các điểm có thể so sánh được. Các đối tượng được bốc thăm để tránh mọi thiên vị. Tổ chức J-PAL áp dụng phương pháp này cho các “thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát” để xác định, chẳng hạn, liệu có hiệu quả hơn khi cho một gia đình nghèo một số tiền, thức ăn, một con bò hay một phương tiện khác để giúp họ về lâu về dài thoát được cảnh nghèo. Đặc biệt các nghiên cứu này được thực hiện ở Ấn Độ và châu Phi, phải làm rõ các lựa chọn chính sách công, thường hay bị quyết định bởi các ưu tiên không có cơ sở về ứng xử của người nghèo.

 

Ngày 10 tháng 12 năm 2019, bà Esther Duflo nhận giải Nobel ở Stockholm, Thụy Điển. © Bryce Vickmark/MIT

Đâu là các bài học chính bà rút tỉa được?

Trước hết là không có bài học nào duy nhất và chung để áp dụng cho tất cả mọi người! Cái nghèo là kết quả từ cả ngàn yếu tố và phải giải quyết từng cái một. Sau đó phải đặt phẩm giá cá nhân lên hàng đầu, không vì nghèo mà giảm phẩm giá họ xuống. Sự giúp đỡ sẽ có hiệu quả hơn khi sự giúp đỡ này được làm trong tôn trọng nhân vị. Đương sự phải là nhân vật chính trong quá trình chứ không phải là người thụ hưởng thụ động. Tiếc thay quá nhiều người có trách nhiệm do dự khi trực tiếp giúp người nghèo, với hậu ý những người này chịu trách nhiệm về số phận của họ, họ không “xứng đáng”. Nhưng tất cả nghiên cứu thục địa đã chứng minh ngược lại: giúp người nghèo không làm cho họ lười biếng! Sự giúp đỡ sẽ có hiệu quả hơn khi sự giúp đỡ này được làm trong sự tôn trọng người nghèo. Phải đặt phẩm giá của họ lên hàng đầu.

Vì sao không mở rộng thu nhập phổ cập đến các nước giàu?

Ở các nước nghèo, với một ít tiền chúng ta có thể ngăn người dân chết đói. Thu nhập này dù ít, nhưng ở các nước giàu, chi phí cho thu nhập phổ quát như vậy sẽ khổng lồ. Tốt hơn là tập trung giúp đỡ những người thực sự cần nó. Hệ thống xã hội của chúng ta cho phép nhắm được mục tiêu tốt này. Ngoài ra, tại nước chúng ta, phẩm giá của con người ít phụ thuộc vào thu nhập, nhưng phụ thuộc vào công việc. Việc làm cấu thành địa vị, bản sắc thậm chí cho rất nhiều người. Ở Pháp, một hiệp hội như hiệp hội ATD – Quart Monde đã hiểu điều này và hoạt động trong chiều hướng này.

Các nghiên cứu của bà chứng minh các thành kiến khác như việc nhập cư làm giảm tiền lương trong các xã hội đón nhận…

Ông có biết câu nói đùa: “Chúng ta càng điên thì chúng ta càng ít gạo.” Có lý do để tin nó có cơ sở và sự cạnh tranh lực lượng lao động nhập cư thật sự đã làm giảm tiền lương của người địa phương. Trên thực tế, khi nhìn kỹ hơn, trực giác này không được xác nhận. Quy luật cung cầu không áp dụng một cách máy móc vào thị trường lao động. Chỉ xét đến yếu tố, người lao động nhập cư cũng là người tiêu dùng: họ làm tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, kích thích nhu cầu làm việc cho mọi người. Dù sao nếu không có người lao động nhập cư, các chủ nhân thường thay thế họ không phải bằng người thất nghiệp địa phương nhưng bằng máy móc hay người máy. Điều này đặc biệt trong trường hợp nông nghiệp ở Mỹ. Ở châu Âu, trong thời gian cách ly, việc thiếu lao động thời vụ nước ngoài trong nông nghiệp chỉ được bù bắp một ít bằng các tình nguyện viên quốc gia.

Bà có đưa ra các thử nghiệm trong thời gian cách ly không?

Để hữu ích trong thời gian dịch bệnh, chúng tôi đã làm hai nghiên cứu về truyền thông để giữ vệ sinh tốt cho các công dân các cộng đoàn thiểu số. Điều này rất quan trọng vì người Mỹ đen chẳng hạn, họ bị ảnh hưởng nặng vì coronavirus nhưng lại ngại đeo khẩu trang vì sợ bị cho là người có tiềm năng tấn công và có thể “vô tình” bị giết”*

Tôi rất sợ cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước giàu. Nó sẽ có tác động rất lớn trên các Quốc gia nghèo.

Có khi nào bà nản lòng vì nhân loại không?

Không, vì tình trạng của con người đã được cải thiện rất nhiều, như tôi đã nói với ông: nghèo đói, tử vong trẻ sơ sinh và tử vong của bà mẹ đã giảm một nửa trong ba mươi năm. Gần như tất cả trẻ em đều đã được đi học. Các tiến bộ là có thật! Tuy nhiên, tôi rất sợ cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước giàu làm tôi rất sợ. Nó sẽ có tác động rất lớn trên các Quốc gia nghèo. Cũng như việc chúng ta không thể giải quyết một vấn đề như khí hậu nóng lên toàn cầu sẽ gây ra hậu quả khủng khiếp cho các quốc gia nghèo hơn là các nước công nghiệp, dù chủ yếu họ là những người chịu trách nhiệm chính cho việc bừa bãi này.

Bà ý thức được sự bất bình đẳng này trên thế giới lúc nào?

Rất sớm ở tuổi thơ của tôi, khoảng 6 hay 7 tuổi. Mẹ tôi là bác sĩ nhi khoa, bà tham gia vào hiệp hội Tiếng gọi (L’Appel) cho trẻ em nạn nhân chiến tranh. Hàng năm mẹ tôi có chuyến đi nhiều tuần. Khi đi về, bà giải thích cho chúng tôi hiểu khi chúng tôi để cho bà đi như vậy là chúng tôi đã giúp cho các trẻ em kém may mắn hơn chúng tôi. Bà cho chúng tôi xem hình ảnh chuyến đi của bà. Tôi còn nhớ tôi đã hỏi mẹ tôi, người tị nạn ở trại Sahraouis tìm nước ở đâu trong sa mạc. Tôi đọc truyện tranh, trên tạp chí Astrapi các bài về Mẹ Têrêxa, về bác sĩ Albert Schweitzer…

Tạp chí Astrapi cho trẻ em từ 7 đến 11 tuổi của các đồng nghiệp Bayard Tuổi Trẻ của chúng tôi phải không?

Đúng, tôi cũng đặt báo Astrapi Images Doc cho hai con tôi. Các báo này giúp trẻ em mở mang với thế giới bên ngoài, biết được đời sống của các trẻ em khác trên thế giới. Cách tiếp cận này góp phần rất lớn cho sự nhạy cảm của tôi về các chủ đề này. Trẻ em nên được khuyến khích để đừng nghĩ mình là trọng tâm vũ trụ.

Các giá trị này đến từ đâu?

Tôi xuất thân từ gia đình tin lành với các xác tín vững mạnh. Không có máy truyền hình ở nhà, chúng tôi nói chuyện rất nhiều. Tôi đi học ở trường Kinh thánh và ở đó cũng có rất nhiều cuộc thảo luận. Nhờ các buổi khảo luận này tôi nhận ra tôi có được may mắn không thể tưởng tượng được, tôi được sinh ra ở một đất nước giàu, trong một gia đình yêu thương. Nó có thể đã khác. Đứa bé tin lành suy nghĩ về tiền duyên, về ân sủng, suy nghĩ này không bao giờ rời bỏ tôi. Do đó, cảm giác có trách nhiệm khi đối diện với cái nghèo, có một món nợ cơ bản đã là ngẫu nhiên từ khi tôi sinh ra. Ngay cả ngày hôm nay, tôi vẫn tự hỏi mình câu hỏi: tôi có đi chệch hướng, tôi có quên người khác, hay tôi đang đi đúng hướng?

Bà Esther Duflo

Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1972 tại Paris

2002: Phó giáo sư tại Viện Công nghệ Massachusetts Institute of Technology (MIT), Mỹ.

2003: Cùng với ông Abhijit Banerjee điều khiển phòng thí nghiệm nghiên cứu về đói nghèo của MIT, năm 2005 được đặt tên lại là Abdul Latif Jameel Poverty Action Lab, J-PAL –

2012: Cùng với ông Abhijit V.Banerjee xuất bản quyển Suy nghĩ lại về cái nghèo (Repenser la pauvreté, nhà xuất bản Points). Vào quốc tịch Mỹ.

2005: Lập gia đình với ông Abhijit V.Banerjee

2019: Giải Nobel kinh tế cùng với Abhijit V. Banerjee và Michael Kremer.

2020: Xuất bản Kinh tế hữu ích cho thời buổi khó khăn (cùng viết với Abhijit V. Banerjee (Économie utile pour des temps difficiles, nhà xuất bản Seuil).

Trong hậu trường

Bà Esther Duflo dự trù tháng 3 đến Pháp để giới thiệu quyển sách mới của bà cùng viết với chồng và cũng là đồng nghiệp kinh tế gia, ông Abhijit V. Banerjee. Nhưng coronavirus đã quyết định khác, bà phải giới thiệu sách qua Skype.

Cách ly cùng với gia đình ở Boston, miền duyên hải phía đông của nước Mỹ, bà cảm thấy không ra khỏi nhà, tránh mọi bất trắc vì bà mong có thể về Pháp nghỉ hè. Nghỉ hè ở Pháp là chuyện không thể thiếu!

Marta An Nguyễn dịch

* Cuộc phỏng vấn được thực hiện trước vụ ông  George Floyd bị cảnh sát giết ngày 25 tháng 5 tại Minneapolis.

Bài gốc tại đây