Những lời của Đức Phanxicô về hạt nhân, một đứt đoạn?

90

Những lời của Đức Phanxicô về hạt nhân, một đứt đoạn?

fr.aleteia.org, Agnès Pinard Legry, 2019-11-25

Khi đến Nagasaki ngày chúa nhật 24 tháng 11-2019, Đức Phanxicô đã lên án mạnh mẽ vũ khí hạt nhân. Sử gia nhà báo Christophe Dickès tóm tắt: “Sẽ là sai nếu nói rằng Đức Phanxicô là giáo hoàng đầu tiên răn đe về nguyên tử, nhưng ngài là giáo hoàng đầu tiên lên án chính vũ khí nguyên tử hơn là chiến tranh nguyên tử.”

Ngài nói ở Đài Tưởng niệm Hòa bình ở Hiroshima ngày chúa nhật 24 tháng 11: “Hơn bao giờ hết, ngày nay việc dùng năng lượng nguyên tử cho mục đích quân sự là một tội ác, không những cho con người và phẩm giá con người mà còn chống lại mọi khả thể cho tương lai ngôi nhà chung của chúng ta.” Theo sử gia Christophe Dickès, “sẽ là sai khi nói rằng Đức Phanxicô là giáo hoàng đầu tiên răn đe việc này.”

Aleteia: Các lời của Đức Phanxicô về nguyên tử có phải là một đứt đoạn với các giáo hoàng trước ngài không?

Christophe Dickès: Sự đứt đoạn này là không có. Thật ra có một sự liên tục trong giáo huấn. Trước hết, chắc chắn vũ khí nguyên tử liên hệ đến chiến tranh. Chúng ta luôn nhớ lời của Đức Phaolô-VI (1963-1978) đọc tại Liên Hiệp Quốc ngày 4 tháng 9 năm 1965: “Không bao giờ còn chiến tranh nữa!” Nhưng chúng ta quên lời của Đức Piô XII (1939-1958) đọc trên đài truyền thanh ngày lễ Giáng Sinh năm 1944, ngài đã phải thốt lên: “Chiến tranh, lại chiến tranh!”. Và trong những năm 1950, cũng Đức Piô XII yêu cầu triệt để cấm chiến tranh, vì chiến tranh “có thể gieo rắc sự hủy diệt hoàn toàn mọi đời sống động vật, thực vật, mọi công trình của con người trên một vùng đất càng ngày càng rộng lớn.” Ngài còn nới rộng bản án của mình qua các chiến tranh vi khuẩn và hóa học. Năm 1955, ngài nói thêm câu kinh khủng: “Sẽ không còn tiếng khóc nào của lịch sử, mà chỉ còn nỗi đau đớn không thế nào an ủi được của nhân loại, đau đớn nhìn tai ương do chính sự điên cuồng của mình tạo ra”.

Về mặt pháp lý, chúng ta đang ở trong thời kỳ mà còn lý thuyết cho rằng có một chiến tranh chính nghĩa, lý thuyết này có nguồn gốc trong tác phẩm của Thánh Âugutinô và cần phải đặt lại vấn đề. Biểu tượng của việc đặt lại vấn đề này nằm trong tác phẩm của nhà luật học vĩ đại của hồng y Alfredo Ottaviani. Thật vậy, năm 1936, trong sách giáo khoa về luật giáo hội của ngài, hồng y tương lai đã xem lại lý thuyết cổ điển về chiến tranh chính nghĩa. Nhưng ngày hôm sau Thế Chiến Thứ Hai 1939-1945, ngài đã thay đổi hoàn toàn quan điểm và viết: “Ngày nay không còn chiến tranh chính nghĩa cho phép một Quốc gia lao mình tấn công để đi tìm quyền của mình. […] Trên thực tế sẽ không bao giờ được cho phép tuyên bố chiến tranh.” Theo ngài, bản chất kỹ thuật của chiến tranh và khả năng hủy hoại chưa từng có của nó làm cho chiến tranh gần như bất hợp pháp. Ngay cả chiến tranh phòng thủ!

Trong Công đồng Vatican II, các Nghị phụ đã lên án chiến tranh nguyên tử trong Hiến   Chế Mục Vụ về Giáo Hội Vui mừng và Hy vọng (Gaudium  et  Spes.), họ xem: “Bất kỳ hành động chiến tranh nào có xu hướng phá hủy toàn bộ thành phố hoặc khu vực rộng lớn với người dân ở đó” là “tội ác chống lại Thiên Chúa và chống lại chính con người”. Về mặt pháp lý, họ cho rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân không tôn trọng tỷ lệ. Thật vậy, trong quan niệm của mình về cuộc chiến chính nghĩa, Giáo hội đã bảo vệ ý tưởng cho rằng các phương tiện được dùng trong cuộc xung đột phải tỷ lệ thuận với các cuộc tấn công.

Chiến tranh Lạnh sẽ thay đổi nhận thức này?

Đúng là Đức Gioan-Phaolô II đã du di trong bối cảnh cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản và các mối liên kết với chính quyền Mỹ. Như nhà địa chính trị quá cố Christian Malis đã đưa ra, Đức Gioan-Phaolô II cho rằng, một sự ngăn cản “dựa trên cân bằng” là “có thể chấp nhận được về mặt đạo đức” miễn là “đây phải là một bước tiến tới giải giáp giải trừ vũ khí dần dần”. Chúng ta đang ở thời buổi 1982. Hai năm sau, ngài tin rằng phải có nghĩa vụ “tạo các điều kiện khiến việc sử dụng chiến tranh là không thể được”. Cuối cùng ngài lên án việc chạy đua vũ khí, khi các nhà lãnh đạo quốc tế bắt đầu thực hiện các sáng kiến để giới hạn chúng. Về vấn đề này, Đức Giám mục André Dupuy đã có những buổi can thiệp khác nhau ở Tòa Thánh để chấm dứt sự phổ biến các vũ khí thông thường.

Xin đọc thêm: Bức hình thương tâm luôn ở trong tâm khảm Đức Phanxicô

Tờ Asahi Shimbun tiết lộ: Trước khi ĐTC đến, Nhật tung lực lượng tìm cậu bé cõng em 

Cái nhìn này có phát triển sau hậu quả của Chiến tranh Lạnh không?

Chắc chắn có. Sau hậu quả của Chiến tranh Lạnh, Tòa Thánh qua quan sát viên thường trực của mình ở Liên Hiệp Quốc là hồng y Renato Martino, lên án vũ khí hạt nhân: “Chiến lược ngăn chận vũ khí hạt nhân là điều cần thiết cho an ninh của một Quốc gia, không ngăn chận vũ khí nguyên tử là giả định nguy hiểm nhất được truyền từ thời kỳ trước đến thời kỳ này. Duy trì việc không ngăn chận vũ khí nguyên tử cho đến thế kỷ 21 là ngăn chận hòa bình chứ không làm thuận lợi cho hòa bình…. Nó là một cản trở nền tảng để tiến tới một giai đoạn an ninh toàn cầu”. Chúng ta đang ở vào thời buổi tháng 12 năm 1993.

“Về mặt thuật ngữ thì Đức Phanxicô là người đầu tiên tấn công vào chính vật thể – là bom nguyên tử – thay vì chiến tranh nguyên tử.”

Cũng vậy với Đức Giám mục Sứ thần Tòa Thán Celestino Migliore năm 2005, một vài tuần sau khi Đức Bênêđictô XVI nói về chủ đề này ngày 1 tháng 1 năm 2006: “Còn nói gì được sau khi các chính quyền dựa trên vũ khí nguyên tử để bảo đảm an ninh cho đất nước của họ? Với vô số người có thiện chí, ngoài thực tế là nó gây chết chóc, thì khẳng định viễn cảnh này chỉ là ngụy biện. Thật vậy, trong chiến tranh nguyên tử không có kẻ thắng mà chỉ có toàn nạn nhân”. Vì thế là sai khi nói Đức Phanxicô là người đầu tiên răn đe vũ khí nguyên tử. Nhưng về mặt thuật ngữ, ngài là người đầu tiên tấn công vào chính vật thể – là bom nguyên tử – thay vì chiến tranh nguyên tử. Từ Chiến tranh Lạnh đến “chiến tranh từng mảnh” theo từ ngữ của ngài, bối cảnh và các mối đe dọa không còn đơn thuần giống nhau.

Đây có phải là vai trò của một giáo hoàng để tuyên bố về việc sử dụng năng lượng nguyên tử không?

Chắc chắn. Từ nhiều thế kỷ nay, thậm chí còn nhiều hơn kể từ thời Đức Lêô XIII và sự sụp đổ của các Quốc gia giáo hoàng – những nước làm cho triều giáo hoàng là thể chế cực mạnh thế gian ở châu Âu, triều giáo hoàng đã được biến thành sức mạnh tinh thần trên trường quốc tế. Sử gia Gilles Ferragu đã kính phục việc thay đổi này.

Trở lại với triết lý của Thánh Tôma, Tòa Thánh chủ trương một trường hợp lương tâm giữa các bang giao quốc tế. Thông điệp Libertas Praestantissimum, 1888 (bàn về các tự do chính trị và mối liên hệ giữa tôn giáo với nhà nước) đưa ra một nguyên tắc mới với ý tưởng đạo đức ở trọng tâm của quyền lực: “Một thực tế được chứng minh bằng lý trí và lịch sử xác nhận, rằng đó là tự do, thịnh vượng và sức mạnh của một quốc gia tăng trưởng tương xứng với đạo đức”.

Ý tưởng này truyền khuynh hướng cho chính sách đối ngoại của Tòa Thánh, mà trên chính trường quốc tế đã áp dụng qua nhiều thập niên, Vatican đã đóng vai trò trọng tài, hòa giải trong nhiều cuộc xung đột. Chính xác hơn, chúng ta có thể xem các vụ can thiệp từ Đức Lêô XIII đến Đức Phanxicô trong sự liên tục của các Phong trào Hòa bình của Thiên Chúa, mà từ thời Trung cổ, đã mời các hoàng tử đến để dàn xếp cho có hòa bình. Mặt khác, các can thiệp này cũng cho các nhà sử học thấy ảnh hưởng tốt đẹp của Giáo hội đối với xã hội và phong tục của nó.

Chính xác, chúng ta có thể thấy các tác động của những lời này không?

Thật khó để nói. Nơi Đức Giáo hoàng có một hình thức ngôn sứ mà đối với một số người là không tưởng, khi lịch sử cho chúng ta thấy các dự án về hòa bình mãi mãi thất bại. Theo truyền thống của triết gia Kant người Đức, chính trị gia người Anh Norman Angell đã tiên tri sự kết thúc của chiến tranh năm 1910. Ông cho rằng không một nhà nước nào có thể đương đầu với chi phí khổng lồ của một cuộc xung đột. Bốn năm sau, châu Âu rơi vào hỗn loạn. Và chúng ta biết rằng những lời kêu gọi hòa bình của của Đức Bênêđictô XV (1914-1922) như tiếng kêu trong sa mạc máu. Sau đó đức Piô XII đã học bài học này bằng cách hành động trong im lặng, nhưng lại hiệu quả. Điều này có lợi cho các nạn nhân, nhưng cũng có thể, hỗ trợ cho âm mưu nổi tiếng của Stauffenberg chống lại Hitler chẳng hạn.

Chính sách của Tòa Thánh mang lại kết quả cả trong lời tiên tri công khai này – rằng người ta nghĩ về Đức Gioan-Phaolô II trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản – nhưng trong sự im lặng cũng là một hành động ngoại giao. Chuyện này chuyện kia đi song song với nhau và tùy theo thời đại, chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết nếu lời kêu gọi của Đức Phanxicô có tác động hay không.

Hình chụp năm 1971 cho thấy vụ nổ nguyên tử ở quần đảo san hô trong vùng Mururoa.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Xin đọc thêm: Hạt nhân, địa chính trị, tài chánh Vatican: Đức Phanxicô trả lời các nhà báo  (Toàn bài)