Giáo hội Đức trước và sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ

138

Giáo hội Đức trước và sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ

cath.ch, Maurice Page, 2019-11-01

Nếu không có vai trò của các Giáo hội, nhất là Giáo hội tin lành Đức thì việc Bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989 đã không diễn ra một cách êm đẹp ở Đông Đức được. Các Giáo hội này tạo một khoảng không gian tự do cho người công dân, bảo vệ họ khỏi các lực lượng chống đối và đóng vai trò trung gian hòa giải trong giai đoạn thống nhất đất nước.

Các biến động chính trị ở Cộng hòa Dân chủ Đức (RDA) thường được mô tả là cuộc “cách mạng tin lành”. Một thuật ngữ gần đây được ông Matthias Platzeck, Đảng xã hội-dân chủ, cựu Thủ tướng Brandenburg đề cập đến vai trò quan trọng của các kitô hữu trong phe đối lập, cũng như ảnh hưởng quyết định của họ trong các quan điểm của các Giáo hội. 

Một mái vòm bảo vệ cho phe đối lập

Ba mươi năm sau các sự kiện, người Đức vẫn còn giữ trong đầu hình ảnh các nhà thờ đông đúc như nhà thờ Gethsemanekirche và nhà thờ Zionskirche ở Đông Bá Linh, hoặc nhà thờ Nikolaikirche ở Leipzig, nơi diễn ra các cuộc biểu tình lớn.

Vào nửa cuối thập niên của những năm 1980, rất nhiều giáo xứ tin lành đã là nơi che chở cho các nhóm đối lập các loại. Một tình trạng không nhất thiết được các nhà lãnh đạo các Giáo hội ưa thích. Bởi vì mục đích chính của họ là có thể tạo ảnh hưởng êm dịu trong các cuộc thảo luận.

Phần tường Bá Linh còn lại © Bernard Litzler

Các tổ chức độc lập duy nhất

Vào thời đó ở Cộng hòa Dân chủ Đức ước chừng có 5 triệu tín hữu tin lành và 1 triệu tín hữu công giáo trên tổng số 16,6 triệu người dân. Dù sao các Giáo hội vẫn là các tổ chức duy nhất ở đây có thể khẳng định tính cách độc lập của họ đối với Quốc gia. Rất nhiều người trong số họ đã tạo khoảng không gian để người dân không những được suy nghĩ tự do mà còn tham gia vào các hình thức dân chủ.

“Giáo hội trong chủ nghĩa xã hội”

Sau các chiến dịch chống Giáo hội (Kirchenkampf) do Đảng cộng sản Đông Đức tiến hành trong những năm 1950, các Giáo hội tin lành, ngày xưa được Quốc gia hỗ trợ, nhưng trong những năm 1970, các Giáo hội này đã phát triển một hình ảnh của chính họ mà thường bị hiểu lầm là “Giáo hội trong chủ nghĩa xã hội” (Kirche im Sozialismus). Đây là một hình thức hội nhập tín hữu kitô trong xã hội hồi đó. Đức Giám mục Albert Schönherr, chủ tịch Liên hội Giáo hội tin lành Đông Đức hồi đó giải thích: “Chúng tôi không muốn một Giáo hội ở ‘bên cạnh’, cũng không muốn mình là Giáo hội ‘chống đối’ nhưng là ‘trong’ chủ nghĩa xã hội. Một công thức thậm chí đã cự được sự tự hủy bởi ngọn lửa của mục sư Zeitz Oskar Brüsewitz năm 1976.

Người công giáo xa cách hơn

Còn người công giáo chỉ là một thiểu số trong thiểu số, một số rất ý thức về vai trò của mình, họ cho rằng một thông đồng với nhà nước như vậy là không thể tưởng tượng được.

Theo Đức Hồng y Bá Linh Alfred Bengsch (qua đời năm 1979) ngài cho rằng một khoảng cách chính trị lớn giữa chế độ Đông Đức và Giáo hội là điều kiện quyết định. Một tinh thần mở ra trong những năm 1980 với các giám mục trẻ hơn như giám mục Joachim Meisner, giám mục giáo phận Bá Linh, giám mục Joachim Wanke, giáo phận d’Erfurt, phong trào được thấy rõ trong cuộc họp công giáo vĩ đại ở Dresde năm 1987. Một trong các kết quả này là sự tham dự của người công giáo trong cuộc Họp Đại kết năm 1988/89, “sự kiện khởi động cuộc cách mạng mùa thu” như nhà thần học công giáo Joachim Garstecki, khi đó là tổng thư ký Hòa bình Công giáo “Pax Christi” mô tả.

Văn hóa phản kháng của người tin lành

Trong khi các cộng đồng tin lành phát triển văn hóa phản kháng chính trị riêng của mình, nhất là qua các buổi “cầu nguyện cho hòa bình” thì người công giáo với tư duy thấm đậm phụng vụ dè dặt hơn.

Thêm nữa, việc bổ nhiệm Đức Giám mục Joachim Meisner ở giáo phận Cologne Tây Đức năm 1989, một vị trí quan trọng trong Giáo hội công giáo Đông Đức lúc đó còn trống đã làm cho công việc lấy các quyết định lớn thành khó hơn. Vì thế hành động của người công giáo có vẻ rụt rè hơn người tin lành. Dù cho nhiều người công giáo làm việc trong các nhóm và các đảng đối lập.

Các mảng của Bức tường Bá Linh nhắc đến trang lịch sử đen tối của nước Đức. © Georges Scherrer

Các ‘bàn tròn’ trong hầu hết nhà thờ 

Các nhà thờ đóng một vai trò công cộng quan trọng, nhất là thời kỳ sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ và trước khi nước Đức thống nhất một năm sau đó vào tháng 10 năm 1990. Trên thực tế, ngay ngày 7 tháng 12 năm 1989, tân chính quyền Đông-Đức chấp nhận thảo luận với các nhóm đối lập và các Giáo hội trong một cuộc ‘thảo luận bàn tròn’. Các bàn tròn khác được được hình thành ở cấp xã. Ở hầu hết mọi nơi có các đại diện của chế độ cũ và các lực lượng mới, tất cả đều cùng nhau tổ chức một cuộc chuyển tiếp hòa bình, các Giáo hội đóng vai trò điều phối.

Người công giáo với Đảng bảo thủ dân chủ kitô (CDU)

Các mối quan hệ khác sau đó xuất hiện: rất nhiều người tin lành có thiện cảm với Đảng xã hội-dân chủ (SPD) được thành lập ở một nhà xứ tin lành, nhiều người công giáo bị thu hút bởi cựu ‘Blockpartei’ Đảng bảo thủ dân chủ kitô, CDU.

Vì thế năm 1990, tại các nghị viện Länder mới, nhiều người công giáo đã bất ngờ chiếm giữ các vị trí điều khiển. Đây là trường hợp của tất cả các bộ trưởng của Länder, ngoại trừ Brandebourg, nơi luật gia tin lành Manfred Stolpe thắng đa số phiếu của Đảng xã hội-dân chủ SPD.

Sau khi nước Đức thống nhất, các Giáo hội đã rút lui khỏi các vấn đề chính trị.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch