Sức tưởng tượng của tính lãng mạn với tôn giáo

44

Ronald Rolheiser, 2004-02-15

Có rất nhiều lý do vì sao các nhà thờ của chúng ta cũ kỹ và trống vắng. Các nhà bảo thủ cho là vì sức mạnh độc hại của thế tục, vì nền văn hóa nuông chiều đánh mất ý nghĩa của hy sinh quên mình, vì chủ nghĩa cá nhân xâm chiếm tràn lan, vì cách mạng tình dục, vì do vị thành niên cao lớn trong thể chất người lớn nhưng tính tình trẻ con của kỷ nguyên Ánh Sáng. Các nhà tự do thì đưa ra các lý do khác: Giáo dân cho rằng nhà thờ đã đối xử theo cách họ đối xử với gia đình nên bây giờ đời sống gia đình gãy đổ ở phương Tây thì không ngạc nhiên khi thấy giáo hội gặp khó khăn. Họ cũng ghi nhận giáo hội ở ngoài văn hóa, một giáo hội quá cứng ngắt, tộc trưởng, quá bị xem là chống cuộc sống, chống khiêu dâm, quá chú tâm đến lịch trình riêng của mình.

Trong các điều khẳng định này có một vài điều đúng, nhưng tôi muốn đưa ra thêm một lý do khác: Chúng ta đã mất đi tinh thần lãng mạn cho đức tin và đời sống nhà thờ của chúng ta. Chúng ta không còn ngọn lửa lý tưởng nào cả. Chúng ta từ lâu chỉ lo bám víu vào đức tin, tôn giáo và giáo hội để đuổi trừ tà ma hằng nung nấu trong ta mà quên khuấy đi tính lãng mạn trong tôn giáo, bây giờ là thời điểm cần bắt đầu hành động để phục hồi lý tưởng lãng mạn trở lại đúng với nét đẹp thiên thần của nó, với đúng ánh sáng tinh ròng và nét đẹp mỹ miều của chúng. Chúng ta cần tái phục lãng mạn hóa lại đức tin, tôn giáo và nhà thờ và làm cho giáo dân cảm nghiệm một điều gì đó tuyệt đẹp để họ yêu thương say đắm.

Và để làm được như vậy, chúng ta cần hơn cả một nền thần học tốt đẹp và các chương trình mục vụ tốt đẹp. Một nền thần học tốt sẽ kích thích và hun đúc trí tuệ. Thánh Tôma Aquinô và Bernard Lonergan hẳn còn muốn nói thêm rằng một nền thần học tốt đẹp cũng giúp lay động được ý chí. Tình yêu cũng cần có tầm nhìn hiểu xa trông rộng.

Chúng ta khuất mình trong đức tin, tôn giáo và giáo hội để đuổi tà ma nóng bỏng mà cũng chưa đuổi xong, để có thể mang chúng về lại bản chất thiên thần, ánh sáng và nét đẹp của chúng. Chúng ta cần lãng mạn hóa lại đức tin, tôn giáo và nhà thờ và làm cho giáo dân một cái gì tuyệt đẹp để họ mê mẫn yêu thương.

Và để làm được như vậy, chúng ta cần hơn cả một nền thần học tốt đẹp và hơn cả các chương trình mục vụ tốt đẹp. Một nền thần học tốt sẽ kích thích và đốt cháy huệ năng. Tôma Aquinô và Bernard Lonergan hẳn còn muốn thêm vào: một nền thần học tốt cần lay động ý chí. Tình yêu cũng cần có sức tưởng tượng.

Vì thế cộng đồng Ki-tô luôn luôn cần một nền thần học hàn lâm tốt. Lịch sử đã chứng minh, cứ mỗi lần giáo hội thỏa hiệp với truyền thống trọng trí cho việc này là không quan trọng, thì giáo hội phải trả giá khá đắt. Nền thần học hàn lâm tốt, vững chắc phải luôn luôn là người sửa sai lớn trong đời sống giáo hội và thiêng liêng. Không có nó, chúng ta mất thăng bằng.

Gần đây, chúng ta được ơn ích với một nền thần học phong phú. Thật khó khăn cho nền thần học hàn lâm vì nó yếu ở giai đoạn này. Ba, bốn mươi năm qua đã xuất bản rất nhiều sách về phụng vụ, lịch sử tôn giáo, giáo lý, thần học luân lý, thiêng liêng, mục vụ thực hành, chú giải kinh thánh. Chúng ta không thiếu các tư tưởng vững chắc.

Cái chúng ta thiếu là ngọn lửa, tính lãng mạn, thẫm mỹ, những chuyện gắn liền vào  đức tin và đời sống phụng vụ của chúng ta. Ngày hôm nay, cái cần để nổi lửa trong lòng tôn giáo là sức tưởng tượng có tính lãng mạn và đó không những là công việc của thần học mà còn là công việc của các thánh và nghệ sĩ. Chúng ta cần các bậc thánh lớn và các nghệ sĩ lớn, lý tưởng nhất là các yếu tố này hội tụ trong cùng một người.

Chẳng hạn chúng ta thấy gương của thánh Phan-xi-cô Đa-xi. Phan-xi-cô không phải là nhà thần học lớn theo tiêu chuẩn hàn lâm của thần học, cũng không phải thiên hướng thần học của ông đã làm nên lịch sử và chuyển hóa đạo Ki-tô. Ông cũng không được các thành phố lớn đặt tên và cũng không phải vì các sách ông viết mà ba trăm dòng tu nam nữ sống theo đặc sủng của ông. Tầm cao cả của ông ở trong đức tính thánh thiện, trong nghệ thuật và trong phong cách đặc biệt ông đã hợp chung các điều này lại. Đó là vị thánh và nghệ sĩ có thể làm nổi lửa sức tưởng tượng của tính lãng mạn cho thế giới và giáo hội. Khi ông cởi bỏ áo quần và trần truồng đi ở thành phố Đa-xi, ông không rao giảng trên tòa giảng, không đọc bài thuyết trình trong giảng đường đại học, không viết sách. Ông chỉ làm một cử chỉ đẹp, một hành vi nhân lành, và hành vi nhân lành này sau đó đi theo lời cam kết dấn thân của ông, đã góp phần vào việc tái tạo lại sức tưởng tượng mang tính lãng mạn của Ki-tô giáo và thế giới chung chung. Bảy trăm năm sau hành vi và đời sống của ông vẫn còn được nhắc đến. Và đó là quyền năng của các thánh lớn, các nghệ sĩ lớn.

Ở một tầm mức nhẹ hơn, chúng ta thấy ảnh hưởng này trong các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo. Chẳng hạn bức Tiệc Ly của họa sĩ Leonardo di Vinci: Không một ai ngày hôm nay có thể vẽ một bức tranh như bức tranh ông đã vẽ dù cho các bậc học giả đều đồng ý rằng Chúa Giê-su và các đồ đệ đã không nghiêng về nhau trên bàn ăn như ông tưởng tượng. Nhưng một nghệ sĩ lớn, một bức tuyệt tác vẫn khắc sâu trong trí tưởng tượng mãi mãi.

Và bây giờ, chúng ta cần các thánh, các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo để mang sức sống đến cho đức tin và giáo hội. Một cách chung chung, các thần học gia đã góp phần của họ cũng như các chương trình mục vụ của giáo xứ và địa phận đã làm. Nhưng duy chỉ các tư tưởng và các chương trình vững chắc thôi thì không đủ. Cần dựa trên các thánh, các nghệ sĩ để thổi lửa lên lại cho sức tưởng tượng của tính lãng mạn. Chúng ta cần các Phan-xi-cô mới, Cla-ra mới, Âu-Tinh mới, Gio-an Thánh Giá mới, Tê-rê-xa Hài Đồng mới.

Các nhà trí thức và các nghệ sĩ hoán cải ở nhiều khía cạnh khác nhau: Bernard Lonergan, nhà trí thức lớn hay nói: “Hoán cải bắt đầu ở huệ năng”; Morris West, một tiểu thuyết gia lớn nói: “Tất cả phép lạ bắt đầu bằng việc sa vào lưới yêu thương!” Tôi nghĩ họ chẳng bao giờ đồng ý với nhau, nhưng tôi chắc chắn họ tôn trọng nhau vì cả hai cùng có lý. Không có tầm nhìn, quả tim không biết mình đi đâu; nhưng, không có ngọn lửa lãng mạn thì không muốn đi đâu hết, ít nhất là đi đến nhà thờ.

J.B. Thái Hòa dịch