Sự chú ý, một điều kiện cần thiết

157

osservatoreromano.va/en, Isabella Adinolfi, 2017-06-01

Đó là năm 1940. Nước Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm một phần, Simone Weil, nhà trí thức Pháp gốc Do Thái, một trong các tiếng nói đặc biệt của thế kỷ 20, sau khi rất do dự, đã cùng cha mẹ của mình rời Paris. Trước hết bà dọn về Vichy, sau đó là Toulouse và cuối cùng bà về Marseille vào tháng 9, nơi bà hy vọng sẽ lên được tàu để gia nhập tổ chức Nước Pháp Tự Do (Free France), một phong trào kháng chiến do Đại tướng Charles de Gaulle cầm đầu ở Anh. Mau chóng, bà nhận ra dự định của mình rất khó thành hiện thực, buộc lòng bà phải ở lại thành phố Địa Trung Hải này một thời gian dài, bà tạo các quan hệ bạn bè, các quan hệ văn hóa mới. Bà thiết lập các mối quan hệ mới với các nơi bà đã quen biết cũ, bà tìm việc làm trong ngành nông lâm. Những ngày bị buộc phải ở Marseille, tuy ngăn không cho bà thực hiện được ngay dự định chính trị của mình, nhưng thời gian này không phải là không sinh lợi. Nữ triết gia trẻ đã sống một trong các giai đoạn sinh lợi nhất về mặt thiêng liêng trong đời của mình, ở thành phố Marseille giữa các năm 1940 và 1941.

Thật vậy, chính trong giai đoạn này mà bà viết Các Tập vở ở Marseille (Cahiers de Marseille) và các bài viết về truyền thống Hy Lạp, tập hợp lại trong tuyển tập Trực giác tiền-kitô (Intuitions pré-chrétiennes), bà viết nhiều khảo luận về Tình yêu của Chúa, đó thật sự là những hạt ngọc suy niệm quý báu. Hai trong các bài này chính xác phản ảnh ý nghĩa của cầu nguyện: Về Kinh Lạy Cha (À propos du Pater) và Các suy niệm về việc dùng các nghiên cứu học đường về tình yêu của Chúa (Reflexions sur le bon usage des études scolaires en vue de l’amour de Dieu).

Trước khi đến Marseille, Simone Weil chưa bao giờ cầu nguyện. Dù năm 1937, bà đã sống kinh nghiệm ở Axixi, lần đầu tiên trong đời, đã có một sự gì đó  rất mạnh làm cho bà quỳ gối xuống khi bà ở Santa Maria degli Angeli trong nhà nguyện Porziuncola và sau này, trong Mùa Phục Sinh năm 1938, khi ở Solesmes, bà có một cuộc gặp không ngờ với Chúa Kitô, như diện trực diện, khi bà đọc bài thơ Yêu thương (Love) của George Herbert. Tuy nhiên như bà đã thố lộ với linh mục trẻ Joseph-Marie Perrin, bà chưa bao giờ cầu nguyện theo đúng nghĩa của cầu nguyện. Linh mục Perrin thuộc Dòng Đa Minh bà gặp ở Marseille, trong thời gian này bà đã trao đổi thư từ rất nhiều với cha. Chưa bao giờ bà nói một lời với Chúa, cũng chưa bao giờ đọc một kinh phụng vụ. Vậy thì chuyện gì đã xảy ra? Chuyện gì đã làm cho bà cầu nguyện?

Khi bà làm việc trong nông trại của ông Gustave Thibon, một triết gia nông dân, theo lời đề nghị của cha Perrin, bà xin ông dạy mình một ít tiếng Hy Lạp, bà nghĩ mình dùng bản Kinh Lạy Cha để học. Và sự dịu dàng vô cùng tận của bản kinh tiếng Hy Lạp đã làm cho bà xúc động mãnh liệt, đến độ, trong nhiều ngày, bà không làm gì khác hơn là đọc đi đọc lại một mình, sau này khi bà đi  hái nho, mỗi ngày trước khi đi làm việc, bà đều đọc Kinh Lạy Cha bằng tiếng Hy Lạp và trong vườn nho, bà cũng đọc lui đọc tới. Từ đó, bà quyết tâm mỗi buổi sáng đọc Kinh Lạy Cha với một sự chú tâm tuyệt đối. Bà thố lộ với cha Perrin, sau đó là bạn của bà, “nếu trong lúc đọc mà tôi đãng trí hay ngủ gật, dù chỉ là rất rất nhỏ, thì tôi cũng bắt đầu đọc lại cho đến khi có được một sự chú tâm tuyệt đối”.

Rất dễ để thấy, từ lời nói này cho thấy tầm quan trọng của khái niệm “chú ý” trong cách suy nghĩ về cầu nguyện của Simone Weil. Thật vậy, đối với nữ triết gia người Pháp gốc Do Thái, cầu nguyện không khác gì hơn là hướng về Chúa với tất cả sự chú tâm mà tâm hồn có thể làm, như chúng ta thấy trong bài khảo luận thật hay mà bà viết cho các sinh viên công giáo ở thành phố  Montpellier, Các suy niệm về việc dùng các nghiên cứu học đường về tình yêu của Chúa. Trong nghĩa này, sự chú ý được áp dụng trong các bài vở ở trường là sự chuẩn bị và dạy dỗ cho một sự chú ý cao hơn, sâu đậm hơn mà cầu nguyện đòi hỏi.

Nhưng đối với nữ triết gia Weil, nếu cầu nguyện là chú tâm, nếu chú tâm là bản chất thì cầu nguyện một cách máy móc, không chú tâm đến lời mình đọc hay cầu nguyện to giọng thì không phải là cầu nguyện, hoặc ít nhất thì đó không phải thật sự là cầu nguyện. Như vậy sự chú tâm là gì và làm sao nó được phát triển? Làm thế nào chúng ta tự dạy mình chú ý và tập trung?

Theo Simone Weil, chú ý không phải là một hành động của ý chí, cũng không phải là một cố gắng dữ dội. Trong kinh nghiệm giáo sư của mình, bà nhận ra khi bà đòi hỏi học sinh chú ý, thì bà thấy các em nhíu mày, nín thở, co thắt bắp thịt, nhưng vài phút sau, khi hỏi các em các em chú ý gì thì các em không trả lời được. Thật ra, các em không chú ý, các em chỉ đơn giản co thắt bắp thịt.

Dù vậy, trong quan điểm của bà, chú ý không phải là một đức tính bẩm sinh, cũng không phải là một cái gì xảy ra mà không có sự đồng ý của chúng ta: một công việc giả định trước, bao gồm một cố gắng, có thể lớn hơn bất kỳ một cố gắng nào khác, nhưng là một cố gắng tiêu cực. Để nhìn một bức tranh đẹp, nghe một khúc nhạc hay và nhất là chú ý cầu nguyện với Chúa thì đầu óc phải thoát ra các ưu tư cá nhân, các suy nghĩ, các ước muốn và tạo một khoảng trống trong lòng. Chú ý là mong chờ, và giống như mong chờ, giả định là mọi quan tâm và mục đích khác phải để qua một bên và chúng ta hoàn toàn tập trung vào những gì đang xảy ra. Chú ý đòi hỏi một công việc cật lực và cố gắng cần thiết để xóa đi ý chí và cái tôi (ego) để có thể mở ra với sự chấp nhận và để được lấp đầy bằng một cái gì khác.

Cũng như mong chờ, chú ý là một hành động không-tích cực, một hành động-tiêu cực. Đó là hành động mà cái tôi tự tách ra chính nó và trở về với chính nó: “Chú ý”, như trong bài khảo luận nói trên, là “tách ra khỏi chính mình và trở về với chính mình, như thở vào, thở ra”.

Tuy nhiên, để biết sự thật thì phải chú ý, để được chú ý thì cần thiết phải mong muốn sự thật. Chỉ khi nào một ước muốn được định hướng đúng thì nó mới có thể làm cho chúng ta có khả năng chú ý trong việc học, chỉ có một tình yêu đích thực cho sự thật và cho Chúa mới làm cho chúng ta có khả năng chấp nhận sự thật và Chúa trong suy tư và trong cầu nguyện. Simone Weil, là sinh viên của triết gia Émile-Auguste Chartier theo trường phái Kant (được biết dưới tên Alain), bà xác quyết, một mong muốn được định hướng đúng là mong muốn sự thật chỉ duy nhất vì tình yêu cho sự thật và mong muốn điều tốt chỉ duy nhất vì tình yêu cho điều tốt. Mọi động cơ khác can thiệp vào sự chú ý mà chúng ta hướng về sự thật và Chúa đều làm giảm, làm nhiễm và làm suy yếu nó.

Một sinh viên học với quyết tâm có điểm tốt cho kỳ thi, anh có thể có được điểm tốt nhưng sẽ không bao giờ biết được sự thật thuần túy. Ước muốn của sinh viên đó  không đủ trọn vì không được hướng dẫn bởi một tư tưởng bất vụ lợi hoặc bởi sự “trung thực của trí tuệ”, mà chỉ duy có điều đó sẽ đưa người sinh viên đó đến sự thật. Cũng vậy, chúng ta không cầu nguyện Lạy Cha chúng con ở trên trời, để cầu xin một chuyện gì, dù cao quý và cao cả như thế nào, mà mục đích là theo ý chúng ta. Như lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta, được nữ triết gia chú giải trong Về Kinh Lạy Cha, chúng ta phải cầu nguyện để Nước Chúa trị đến, dù có như thế nào đi nữa.

Vì thế, theo bà Simone Weil, cầu nguyện là dọn tâm hồn để tiếp xúc với Chúa. Một tiếp cận bất vụ lợi mà Simone Weil thích mô tả đó là tiếp cận “khách quan”, là điều làm cho chúng ta chú ý và khai mở ý thức chúng ta ra với sự thật. Tốt hơn, đó là điều chuẩn bị cho chúng ta tiếp nhận nó.

Trong suy nghĩ của bà Simone Weil luôn có một dè chừng sâu đậm về cái tôi và những gì thuộc lãnh vực riêng tư, theo đó, bà luôn không coi trọng chủ nghĩa cho mình là trọng tâm. Ngắn gọn, theo bà, cầu nguyện là vứt bỏ ý muốn riêng, vứt bỏ suy nghĩ từ cái lồng của cái tôi, để hướng về Chúa. Và kết quả cầu nguyện theo cách này là chúng ta hòa vào Chúa, làm cho chúng ta trọn hảo như Cha trên trời và yêu thương thế giới như Ngài yêu thương, một cách không thiên vị. Câu Thánh Kinh mà bà Weil nhắc đến nhiều lần trong công việc của bà, cũng như luôn ở trong suy tư tôn giáo của bà: “Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em. Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5, 45).

Tuy nhiên, nếu việc cầu nguyện làm cho chúng ta trở nên con cái của Chúa, giống như Ngài trong tình yêu, bắt chước Ngài trong việc cho mưa rơi và ánh sáng mặt trời xuống không phân biệt ai, thì tình phụ tử và sự đồng hoá này không phải là thành tựu của con người. Theo Simone Weil, chính Thiên Chúa đã nâng chúng ta lên và làm cho chúng ta là con cái Ngài. Vì thế, nếu ước muốn hướng về Chúa là sức mạnh duy nhất có thể nâng tâm hồn, thì hành động của Chúa giữ lấy linh hồn và nâng cao nó là sự đáp ứng cho ước muốn này. Bà viết “Chúa đến chỉ cho những ai mời Ngài đến; cho những người thăm hỏi Ngài thường xuyên, trong một thời gian dài và sốt sắng”. Và bà nhấn mạnh: “Chúa không thể nào tự tách ra mà không đến với họ”.

Vì vậy đối với bà Simone Weil, Thiên Chúa không phải chỉ là số phận khách quan của các người khắc kỷ, Ngài không phải là một cần thiết, dù đó là một trong các khía cạnh của Ngài, nhưng Ngài là Thiên Chúa yêu thương, lắng nghe lời cầu nguyện chân thành của con người, chờ ngoài cánh cửa tâm hồn và sẵn sàng đi vào khi được mời.

Ngài là Thiên Chúa yêu thương của Phúc Âm, của các nhà thần nghiệm, hiện diện với những người yêu Ngài và cầu bàu với Ngài trong lời cầu nguyện, thuần khiết và bất vụ lợi như bà Simone đã làm khi đọc Kinh Lạy Cha. Bà nói với linh mục Perrin: “Đôi khi những lời đầu tiên đã xé toạc các suy nghĩ của tôi từ cơ thể tôi, mang tôi đến một nơi ngoài không gian, nơi không có một viễn cảnh, cũng không có một quan điểm. Khoảng không gian mở ra. Không gian vô tận bình thường của viễn cảnh được thay thế bằng một không gian vô tận thứ nhì hoặc đôi khi một không gian quyền lực thứ ba. Cùng một lúc, khoảng không gian vô tận này tràn ngập thinh lặng, không phải không có âm thanh nhưng là đối tượng của một cảm nhận tích cực, tích cực hơn là một âm thanh. Tiếng ồn nếu có, thì nó chỉ đến với tôi sau khi trải qua thinh lặng này. Và thỉnh thoảng, trong khi đọc kinh hay những giây phút khác, Chúa Kitô hiện diện như người thật, một sự hiện diện vô cùng thật hơn, xúc động hơn, rõ ràng hơn, tràn ngập tình yêu hơn là lần đầu khi Ngài nắm lấy tôi”.

Marta An Nguyễn dịch