Những ngày yên lặng ở Mater Ecclesiae

78

Trích sách: Bênêđictô XVI, Những buổi nói chuyện cuối cùng với Peter Seewald. Nxb. Fayard.

Trọng kính Cha Bênêđictô, cha được hàng triệu người xưng là Đức Thánh Cha, cha sống trong dinh thự, cha đã tiếp các lãnh đạo thế giới. Những chuyện này cha có thấy thiếu không?

Không, tuyệt đối không! Ngược lại cha cám ơn Chúa đã cất trách nhiệm mà cha không thể đảm trách nổi nữa. Bây giờ cha được tự do sống theo nhịp khiêm tốn hàng ngày, con đường của cha với Chúa, sống giữa các bạn của cha và tiếp họ.

Bỗng nhiên không còn quyền lực, cha sống gần như khép kín đàng sau các bức tường của Vatican – làm sao cha sống đời sống này?

Trong tất cả mọi trường hợp, cha không bao giờ xem “quyền lực” là một sức mạnh, nhưng là trách nhiệm, như một quả cân đè nặng. Một cái gì bắt mình tự hỏi mỗi ngày: Tôi có ở tầm cao với trách nhiệm này không? Dù nghe lời chúc tụng của đám đông, cha luôn biết, những lời chúc tụng này không nhằm vào con người nhỏ bé khốn cùng là cha, nhưng vào Đấng mà cha đại diện. Như thế, cha từ bỏ nó rất dễ.

Từ đầu, cha cho biết triều giáo hoàng của mình sẽ có thể ngắn. Có phải vì lý do tuổi, vì lý do sức khỏe.

Thật ra cha có cảm tưởng là không được vững chắc.

Cuối cùng cha đã ở lại tám năm, thời gian lâu hơn một số vị tiền nhiệm của cha. Một câu hỏi tiên quyết: cảm tưởng của cha có thật sự ảnh hưởng đến chương trình triều giáo hoàng của cha không?

Đương nhiên. Cha không đóng móc vào những công việc lâu dài như vậy.  Phải có thời gian trước mặt mình để dấn thân vào công trình này. Cha biết công việc của cha thuộc một bản chất khác, rằng trước hết, cha phải tìm ý nghĩa của đức tin cho thế giới ngày nay, đặt rõ ràng trọng tâm đức tin vào Chúa và làm cho con người có can đảm để tin, can đảm để sống cụ thể đức tin của mình trong thế giới này. Theo cha, đức tin và lý tính, đó là sứ mệnh của cha. Độ dài triều giáo hoàng của cha không quan trọng cho việc này.

Có lúc nào cha cầu nguyện với Chúa: “Xin cất cho con, con không làm được nữa, con hết sức để tiếp tục” không?

Theo nghĩa đen như những chữ này thì không. Đương nhiên cha cầu nguyện với Chúa, nhất là trong thời gian xảy ra vụ Williamson, xin Chúa giải thoát cha, giúp đỡ cha, có, cha có cầu nguyện như thế. Nhưng cùng một lúc, cha biết, chính Chúa là người đặt để cha vào địa vị này và Ngài không để cha bị rơi xuống.

Cha có bao giờ nghĩ mình vứt bỏ mọi gánh nặng này không? không kiên trì và không chỉ dốc tâm phục vụ, không đảm trách các bổn phận không bao giờ dứt, tất cả lề thói nếp cũ đè nặng của một chức vụ không? không còn là một con người không?

Có chứ. Nhất là thời cha còn làm Hồng y Bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin, cha thường hay nói với Đức Giáo hoàng. Nhưng Đức Gioan-Phaolô II luôn trả lời: “Không, phải tiếp tục!”

Cha cũng không xin nếu cha có phải chấp nhận cuộc bầu chọn mình không?

Quả đúng đây là câu hỏi cha đã đặt ra một cách rất nghiêm túc. Nhưng cha có cảm tưởng, qua sự kiện trong thời gian tiền mật nghị, có nhiều hồng y đã xin trước, giáo hoàng tương lai hãy chấp nhận phiếu của đa số hai phần ba – dù người đó cảm thấy không đủ sức mang thập giá này – và cha thấy đây như một dấu hiệu. Một đòi hỏi từ nội tâm. Lời kêu gọi này được nói lên một cách nghiêm túc và cao trọng, nên cha nghĩ, thật sự nếu đa số hồng y đã bầu như vậy thì đây là lá phiếu của Chúa và cha phải chấp nhận.

Cha không bao giờ tự hỏi: có thể mình là một chọn lựa không tốt?

Không. Các hồng y đã bầu mình, mình phải làm công việc của mình. Quan trọng không phải là sự phán xét của các ký giả, nhưng là sự phán xét của Chúa.

Ước muốn lớn nhất của cha là có thể sống duy nhất trong chiêm niệm và cầu nguyện. Bây giờ cha có thể sống như vậy không?

Không hoàn toàn. Trước hết vì cha thiếu sức mạnh tâm lý: cha chưa hoàn toàn đủ mạnh nội tâm để toàn tâm toàn lực hiến cho những chuyện thần thánh và thiêng liêng. Thêm vào đó là một lý do bên ngoài: cha có nhiều người đến thăm. Cha nghĩ cũng là tốt để trao đổi với những người có trách nhiệm với Giáo hội ngày nay, hoặc những người có một vai trò trong cuộc đời của cha, cha phải giữ một cái gì đó bám rễ trong đời sống con người. Mặt khác, sức khỏe thể xác không còn cho phép cha thường xuyên ở lâu trong lãnh vực cao này. Vì thế đó là một ước nguyện không thực hiện được. Nhưng đúng là cha có một bình an nội tâm rất lớn về chuyện này, và đó đã là một điều cực kỳ quý giá.

Cha còn viết không?

Không! Không, không, sau ngày lễ Giáng Sinh, cha biết từ nay là “An bình ra đi” * (Nunc dimittis, Lc 2: 29), cha đã hoàn tựu tác phẩm của cha.

Cha có viết nhật ký hay sổ ghi chép?

Cha không viết nhật ký, nhưng thỉnh thoảng cha có ghi chép các chiêm niệm. Tuy nhiên cha cũng sắp vứt nó.

Tại sao?

(Cha cười.) Vì nó quá riêng tư.

Nhưng dù sao thì nó cũng là…

…một mối lợi bất ngờ cho các sử gia.

Cha đã viết một công trình thần học đáng kể, quan trọng hơn bất cứ một giáo hoàng nào trước cha. Sách của cha bán hàng triệu ấn bản. Như thế có quá khó cho cha để từ bỏ không cầm viết nữa?

Không, hoàn toàn không. Trên thực tế, tuần nào cha cũng soạn bài giảng lễ chúa nhật. Như thế cha có công việc đầu óc để làm, một bài chú giải phải soạn. Dù sao, cha không thể nào không viết. Nhưng nó đòi hỏi phải soạn trước một cách có hệ thống, nên sẽ rất khó nhọc cho cha bây giờ.

Cha soạn bài giảng cho bốn, năm người nghe?

Vì sao không? (Cha cười) Đúng! Dù chỉ có ba, hai mươi hay cả ngàn người thì Lời Chúa phải luôn có mặt cho con người.

Cha còn gì chưa mà cha nghĩ cha phải làm cho xong?

Nếu con muốn nói cha còn cái gì muốn để lại cho mọi người thì cha sẽ trả lời là “không”. Ngược lại, cha muốn tiếp tục phục vụ trong lời cầu nguyện.

Còn chúc thư của cha?

Sau khi viết lui viết tới chúc thư nhiều lần, bây giờ cha đã có bản chúc thư cuối cùng.

Một chúc thư thần học?

Không, không. (cha cười). Không, các tài liệu cha có và cha để lại.

Một bài chiêm niệm của một giáo hoàng danh dự thì giống cái gì? Có bài học thiêng liêng nào mà bây giờ cha yêu thích một cách đặc biệt, mà đối với cha là rất quý không?

Bây giờ cha có thể đọc kinh nhật tụng một cách sâu đậm hơn, chậm hơn, cha đọc thánh vịnh thân tình hơn, với các Tổ phụ. Như cha đã nói, mỗi sáng chúa nhật cha có một bài giảng ngắn. Cả tuần, cha suy nghĩ một chút về bài giảng này, cha để nó chín dần dần, như thế cha có thể thấy được bản văn dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Bài đó nói gì với cha? Bài đó nói gì với những người ở đây, trong tu viện này. Và đó là những gì thật sự mới đối với cha, nếu cha có thể nói: có thể thấm vào lòng cha hơn, trong sự yên tỉnh khi cầu nguyện với thánh vịnh, làm cho cha quen thuộc với chúng hơn. Và như thế, các bài phụng vụ, nhất là các bài ngày chúa nhật đi theo cha suốt tuần.

Cha có một kinh cầu nguyện nào cha thích nhất?

Cha có nhiều chứ. Trước hết là kinh Thánh I-Nhã*: “Lạy Chúa, xin hãy nhận lấy tất cả tự do của con…” Rồi kinh của thánh Phanxicô Xaviê: “Con yêu Chúa không phải vì Chúa cho con thiên đàng hay buộc con phải xuống địa ngục, nhưng vì Chúa là Chúa của con. Con yêu Chúa vì Chúa là Chúa.” Hay kinh của thánh ẩn tu Thụy Sĩ Nicolas de Flue: “Xin hãy nhận con, vì con là con…” Và cha đặc biệt thích “lời nguyện giáo dân” * của thánh Pierre Canisius của thế kỷ 16, cha thấy ở trong “Gotteslob” nhưng cha quên. Lời cầu nguyện vẫn còn giữ trọn tính thời sự và nét đẹp của nó.

Cha có một nơi cầu nguyện nào cha yêu thích đặc biệt không?

Đương nhiên cha sẽ trả lời là Altӧtting.

Trọng tâm các suy tư của cha luôn là cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô. Vậy cha ở đâu trong cuộc gặp gỡ này? Sự gần gũi của cha với Chúa Giêsu như thế nào?

(Cha thở một hơi sâu.) Đương nhiên điều này tùy thuộc vào hoàn cảnh, cha gần với Chúa trong phụng vụ, trong kinh cầu nguyện, khi suy niệm bài giảng ngày chúa nhật, cha thấy Ngài trực tiếp trước mặt cha. Vẫn luôn cao cả và huyền bí. Có rất nhiều lời trong Phúc Âm mà bây giờ cha cảm nhận tầm cao cả và sức nặng mạnh hơn trước đây. Chuyện này làm cho cha nghĩ đến thời cha làm cha đại diện. Một ngày nọ, linh mục Romano Guardini (1885-1968) được một mục sư phái Phúc Âm láng giềng mời, linh mục nói với mục sư: “Khi người ta già, các chuyện không trở nên ngày càng nhẹ nhưng ngày càng nặng.” Câu này đã đánh động mục sư và làm cho ông rất xúc động. Có một sự thật ở đó. Nếu có thể nói, một mặt cũng do có trau dồi nhiều hơn. Cuộc sống từ nay có dáng hình của nó. Các quyết định căn bản đã lấy. Mặt khác, chúng ta cảm nhận rất mạnh trọng lực của các vấn đề, sự báng bổ nghịch đạo hiện nay, sức nặng của sự vắng thiếu đức tin trong các chiều sâu của Giáo hội, nhưng ngược lại, tầm cao cả của Chúa Giêsu Kitô, người ta thường xuyên trích ra nhiều hơn trước.

Nó có liên hệ đến sự mất tình gần gũi với Chúa không? Hay do hoài nghi?

Hoài nghi, không, nhưng cảm nhận người ta xa tầm cao cả của huyền nhiệm đến như thế nào. Đương nhiên, người ta cũng đến được với những mạc khải mới. Cha thấy điều này rất xúc động, rất an ủi. Cùng một lúc, người ta ý thức, rằng, không bao giờ khám phá cho xong được Lời Chúa. Một vài lời giận dữ, loại bỏ, đe dọa bị kết án đích xác làm cho mình thấy lo lắng, hung bạo và quan trọng hơn trước đây.

Người ta hình dung giáo hoàng, vị đại diện của Chúa ở thế gian này, có một quan hệ đặc biệt chặt chẽ, mật thiết với Chúa.

Đúng, giáo hoàng phải như thế và cha không có cảm nhận Ngài ở xa. Trong lòng, cha luôn có thể nói chuyện với Ngài. Dù cha chỉ là một con người nhỏ bé khốn cùng, không phải lúc nào cũng đến được với Ngài.

Cha có nếm qua “đêm tăm tối” giống như các thánh hay nói không?

Không hung bạo như thế. Có thể cha chưa đủ thánh để đi sâu vào trong bóng tối. Nhưng cũng không phải là không đúng khi thấy chung quanh chúng ta, bao nhiêu là việc làm của con người làm cho chúng ta tự hỏi, vì sao Chúa lại cho phép họ làm những hành động trầm trọng như vậy. Vậy thì phải bám vào xác quyết, Ngài biết rõ hơn chúng ta.

Cha không bao giờ biết “đêm tăm tối” trong đời cha?

Các tăm tối không bao giờ trọn vẹn, nhưng trong một vài bối cảnh, chúng ta khó để hiểu Chúa thật sự muốn gì, tại sao sự dữ lại có mặt, chẳng hạn, làm sao nó lại thích hợp được với sự toàn năng, với lòng tốt của Ngài. Các câu hỏi này tấn công mình lui tới hoài.

Làm thế nào để đối diện với các vấn đề đức tin này?

Trước hết là không bao giờ được từ bỏ xác tín căn bản của đức tin, có thể nói là phải ở trong đức tin. Biết rằng, nếu tôi không hiểu một cái gì đó, không phải cái đó sai, nhưng vì cái thấp nhỏ của mình. Dù thế nào, tôi cũng dần dần đến gần. Đến lúc, bỗng phân biệt được một cái gì mà trước đây mình chưa thấy, điều này luôn là một món quà. Mình cảm thấy mình phải khiêm tốn, nếu lời Sách Thánh còn khép cửa với mình thì phải chờ Chúa mở ra cho mình.

Ngài có mở ra không?

Không phải lúc nào Ngài cũng mở. Nhưng sự hiện hữu của một vài giây phút mở ra cho thấy tầm cao cả này.

Một giáo hoàng danh dự có sợ cái chết không? Hay ít nhất là sợ chết?

Trong một chừng mực nào đó, có. Trước hết sợ mình là gánh nặng cho người khác vì bệnh liệt lâu dài. Với cha, cha sẽ rất buồn lòng. Đó là điều mà cha của cha luôn sợ, nhưng ông đã không bị thử thách này. Kế đó, dù cha hoàn toàn tin tưởng Chúa không bỏ cha, nhưng càng đến gần Ngài, cha càng cảm nhận rõ những gì mình đã làm không đúng. Sức nặng của lỗi lầm đè nặng trên mình, dù đương nhiên lòng tin tưởng căn bản vẫn luôn hiện diện.

Cái gì đã đè nặng cha?

Đã không luôn đối xử với mọi người một cách thích đáng, công chính. A! toàn các chi tiết, không phải là chuyện gì lớn, thật may, đó là những chuyện nhỏ mà theo lẽ cha đã có thể, đã phải làm tốt hơn. Cha đã không biết mến chuộng người dân, tình huống theo đúng giá trị của họ.

Khi cha sẽ đứng trước Đấng Toàn Năng, cha sẽ nói gì với Ngài?

Cha xin Ngài bao dung với cái khốn cùng của cha.

Người tín hữu hy vọng “đời sống vĩnh cửu”, một đời sống hoàn tựu.

Tuyệt đối đúng! Họ đã thực sự về nhà.

Còn cha, cha mong chờ gì?

Cha phân biệt nhiều mức độ. Trước hết là về mặt thần học. Các lời của thánh Âugutinô mang đến cho cha một niềm an ủi rất lớn. Đó là một tư tưởng lớn. Ngài chú giải lời thánh vịnh: “Hãy luôn luôn đi tìm dung nhan Ngài”, chữ “luôn luôn” này là sự vĩnh cửu hoàn toàn. Thiên Chúa quá cao lớn mà chúng ta sẽ không bao giờ chấm dứt. Ngài cũng luôn luôn mới. Đó là một động thái mãi mãi, vô tận, của khám phá mới, của niềm vui mới. Đó là những chuyện mà về mặt thần học mình phải làm việc. Thêm vào đó một mức độ hoàn toàn nhân bản: cha rất vui tìm lại cha mẹ, anh cha, em cha, các bạn bè và hình dung tất cả lại sẽ đẹp như ở nhà mình.

Cánh chung học, khoa học của “những chuyện tối hậu” – cái chết, luyện tội, sự bắt đầu một đời sống mới -, là một trong những chủ đề nền tảng của cha. Như cha đã nói, chính trên chủ đề này mà cha viết quyển sách hoàn hảo nhất của cha. Ngày nay, chính cha có thấy đối diện trực tiếp với những câu hỏi cánh chung, cha có thể rút tỉa được lơi ích từ công việc thần học này của cha không?

Đương nhiên. Các suy tư mà cha đã dành cho luyện tội, bản chất của đau khổ, ý nghĩa của nó và tính chất tập thể của ân phúc, ở sự chìm ngấm trong đại dương mênh mông của niềm vui và của tình yêu có một tầm quan trọng đối với cha.

Cha có nghĩ cha là người đã được soi sáng không?

Không, hoàn toàn không! (Cha cười). Không.

Nhưng sự soi sáng, cùng với sự thánh thiện, có phải là một trong các mục tiêu được ấn định của đời sống công giáo không?

Khái niệm “soi sáng” có một cái gì hơi ưu tú. Cha là một tín hữu kitô giáo hoàn toàn bình thường. Đương nhiên biết được sự thật, mà sự thật là ánh sáng. Nhờ đức tin, người đơn sơ nhất, họ cũng được soi sáng. Bởi vì họ thấy những gì mà những người thông minh không nhận thấy. Trong nghĩa này, đức tin là soi sáng. Nơi các người Hy Lạp, phép rửa tội được gọi là photismos, soi sáng, đến với ánh sáng, với thị kiến. Mắt của tôi mở ra. Cha thấy chiều kích này hoàn toàn khác, nó vô hình dưới con mắt của thể xác mình.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

nhung-ngay-yen-langKinh “Xin hãy nhận lấy”

Lạy Chúa, xin hãy nhận lấy tất cả tự do, trí khôn và cả ý chí con.

Tất cả những gì con có và đang làm chủ, Chúa đã cho con;

nay con xin dâng lại cho Chúa.

Tất cả là của Chúa, xin Chúa xử dụng hoàn toàn theo tôn ý ngài.

Lạy Chúa, xin hãy ban cho con tình yêu và ân sủng Chúa.

Đối với con, thế là đủ.

Thánh I-Nhã

“Nunc dimittis” (An bình ra đi) đó là những chữ đầu tiên bài ca của ông Simêôn trong Phúc Âm Thánh Luca (2: 29) khi tiến dâng Đức Giêsu cho Thiên Chúa. Ông Simêôn nhận nơi Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai hằng mong chờ, ông ca ngợi Chúa và từ nay ông sẵn sàng ra đi: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en dân Ngài”.

“Lời cầu nguyện giáo dân” của Thánh Pierre Canisinus, “tông đồ thứ nhì của nước Đức”: “Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu, là Cha trên trời, xin đoái thương nỗi khốn cùng, tuyệt vọng và trần trụi của chúng con với đôi mắt thương xót vô bờ của Chúa. Xin Chúa thương xót tất cả tín hữu kitô, là con của Chúa mà Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu rỗi chúng con đã tự nguyện hiến mình vào bàn tay kẻ tội lỗi và đã đổ máu chí thánh trên Thập Giá. Lạy Cha khoan dung, qua Chúa Giêsu xin cha đừng giáng phạt tội lỗi chúng con, các hiểm nguy hiện tại và sắp tới, các lỗi nghĩa phản nghịch, các mưu mô chiến tranh, cứng đầu, bệnh tật, những lúc xao xuyến và trong khi cần. Xin Chúa cũng soi sáng và tăng sức cho những gì tốt cho các người hướng dẫn về mặt thiêng liêng cũng như ngoài đời, để họ góp phần làm vinh danh Chúa, cho sự cứu rỗi chúng con, cho hòa bình thế giới, cho sự thịnh vượng của toàn Kitô giáo. Lạy Thiên Chúa của hòa bình, xin cho chúng con được hiệp nhất trong đức tin, không chia rẽ, không phân cách bất cứ ai; xin hoán cải tâm hồn chúng con để chúng con thật sự ăn năn và cải thiện cuộc sống ccmh; xin Chúa thắp sáng ngọn lửa tình yêu của Chúa trong con; xin cho con lòng sốt sắng và lòng đói khát công chính để chúng con là những đứa con vâng lời, đẹp lòng Chúa trong đời sống cũng như trong cái chết. Như Chúa hằng muốn, chúng con cũng cầu xin Chúa cho bạn bè, cho kẻ thù, cho những người mạnh khỏe, những người bệnh hoạn, cho tất cả tín hữu kitô bị đau khổ, cho kẻ sống cũng như người chết. Lạy Chúa, chỉ có Chúa là Đấng điều khiển tất cả hành vi, cử chỉ, tất cả mưu toan của chúng con trong cuộc sống cũng như trong cái chết của chúng con. Xin Chúa cho chúng con hưởng ơn Chúa đời này và kết hiệp với những người được Chúa chọn ở đời sau, để chúng con có thể ca ngợi Chúa, vinh danh Chúa, thờ phượng Chúa trong niềm vui và hân hoan muôn đời! Lạy Chúa là Cha trên trời xin nhận lời chúng con! Vì Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đời đời kiếp kiếp. Amen.”