Lời nói đầu sách Bênêđictô XVI Những buổi nói chuyện cuối cùng với Peter Seewald

345

Lời nói đầu sách Bênêđictô XVI Những buổi nói chuyện cuối cùng với Peter Seewald

“Tin, không gì khác là trong bóng tối của thế gian, chạm được bàn tay của Thiên Chúa, và vì thế, trong thinh lặng, nghe được Lời, thấy được Tình yêu.”

Bênêđictô XVI, kết luận các bài học thiêng liêng của giáo triều La Mã, trước khi chấm dứt nhiệm kỳ của mình, 23 tháng 2-2013.

Lời nói đầu

Trích sách: Bênêđictô XVI, Những buổi nói chuyện cuối cùng với Peter Seewald. Nxb. Fayard.

Một mùa hè ở đồng quê và một mùa đông đã trôi qua, ngày 23 tháng 5-2016, khi tôi lại leo lên dốc đến Đan viện Mẹ Giáo hội (Mater Ecclesiae) ở vườn Vatican, tôi rất sợ đây là cuộc nói chuyện dông dài cuối cùng của chúng tôi.

Xơ Carmela ra mở cửa cho tôi, xơ lúc nào cũng tuyệt vời, khác với mọi lần, xơ không mặc tạp dề nhưng mặc bộ vét lịch sự. Lối vào trang hoàng bằng bức tranh thánh Âugutinô, vị thầy thiêng liêng có một tầm quan trọng trên Đức Bênêđictô XVI, vì các bài viết của thánh Âugutinô nói lên cuộc chiến thảm thương và thật là nhân bản để có được chân lý cho đức tin.

Đức Bênêđictô XVI không còn mang đôi giày nhẹ đỏ, bây giờ ngài mang xăng-đan như một đan sĩ. Ít người biết từ nhiều năm nay, ngài bị mù mắt trái và bây giờ thính giác ngài bị yếu. Ngài ốm đi, tuy vậy nơi ngài tỏa ra một nét dịu dàng mới. Thật cuốn hút biết bao khi thấy tư tưởng gia táo bạo, triết gia của Chúa, người đầu tiên được gọi là giáo hoàng danh dự đi đến đoạn cuối đời ở đây, trong thinh lặng và trong cầu nguyện, nơi chỉ một mình trí năng thôi cũng không đủ để ở trọng tâm dù là trọng tâm của đức tin?

 

Cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với cựu bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin là vào tháng 11 năm 1992. Trên danh sách các ứng viên cc Tạp chí Süddeutsche Zeitung muốn xuất bản chân dung ngài và giao cho tôi thực hiện dự án này. Trên danh sách các ứng viên dành nhau để có một cuộc hẹn với hồng y danh tiếng nhất thế giới có tên các đồng nghiệp của báo New York Times, Pravda hay Figaro. Người ta khó nghi ngờ là do tôi đặc biệt là người công giáo, nhưng tôi càng quan tâm đến Joseph Ratzinger thì tôi càng ấn tượng bởi quyền tối thượng, bởi đam mê và lòng can đảm mà qua đó tư tưởng không hợp thời của ngài đã đi ngược dòng. Lạ lùng thay, các phân tích của ngài không những làm lên tinh thần mà theo tôi, nó còn thích đáng.

Thật ra nếu nhìn kỹ, người được mệnh danh không đúng là “hồng y-thiết giáp” không hiện thân của một quá khứ, nhưng hiện thân cho một tương lai, một trí tuệ mới trong việc hiểu biết và diễn tả các mầu nhiệm đức tin. Ngài có một nghệ thuật đặc biệt làm sáng tỏ các chủ đề phức tạp nhất, nhìn vượt lên bề mặt của các sự việc. Khoa học và tôn giáo, vật lý và siêu hình, tư tưởng và cầu nguyện – Ratzinger tập hợp tất cả để đi vào trọng tâm của các vấn đề. Hơn nữa, nét đẹp ngôn ngữ của ngài còn nâng cao chiều sâu tư tưởng của ngài. Ngài tuyên bố: “Thần học là suy tư những gì Chúa đã nói trước cho chúng ta, những gì ngài đã thấy trước cho chúng ta.” Tuy nhiên để có thể tiếp nhận, thì phải biết lắng nghe. Nếu chúng ta không  chỉ muốn gây ấn tượng nơi con người mà muốn dẫn họ về với Chúa, thì Lời cần thần hứng.

Cũng như Karol Wojtyla, chính Joseph Ratzinger cũng chịu hệ quả của các hệ thống vô thần. Từ nhỏ, ngài đã thấy thánh giá biến mất ở trường học; nhập ngủ năm mười bảy tuổi, ngài đã thấy sự kinh hãi và tàn phá do điên cuồng vì muốn tạo một “con người mới” trong một thế giới không có Chúa. Sự cần thiết phải bảo vệ kitô giáo một cách có lập luận chống lại sự lật đổ các giá trị, mà các giá trị này đã thấm nhập sâu xa trong tư tưởng của ngài, trong trọn tác phẩm của ngài. Ngài nói: “Đức tin của cha mẹ tôi đã khẳng định với tôi, rằng công giáo là thành trì chân lý và công chính để chống lại đế quốc vô thần và nói dối này, một đế quốc đại diện cho chủ nghĩa quốc gia-xã hội.”

Cùng với các chiến thắng cũng như thất bại, con đường dẫn con người có tài năng ngoại hạng này đến ngôi Thánh Phêrô thì thật xúc động, người mà từ rất sớm đã biết mình thuộc hàng ngủ những người ưu tú. Người học sinh tinh tế, biết làm thơ lục ngôn Hy Lạp, biết say sưa với thiên tài âm nhạc Mozart. Người sinh viên trẻ mơ tái sinh tinh thần kitô trên các đường phố của thành phố Munich bị tàn phá vì bom đạn. Người sinh viên cao học khao khát hiểu biết, được các nhà thần học giỏi nhất thời đào tạo tư tưởng tiến bộ, suy ngẫm các tác phẩm của thánh Âugutinô, của triết gia Kierkegaard và của thần học gia Newman. Cha phó xứ không thủ cựu đã tạo nhiệt huyết nơi các nhóm trẻ. Nhưng cũng là người tiến sĩ chán ngán, mới đầu sự nghiệp của mình đã nghĩ mình đứng trước một hố sâu của thất bại.

Và rồi số phận quyết định một cách khác. Bỗng chốc, vị giáo sư có dáng thư sinh đến từ một ngôi làng nhỏ của Bavière trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời của các thần học gia.

Một ngôn ngữ mới, một tương quan sáng tạo với Phúc Âm, một giáo điều xác thực đã lôi cuốn sự chú ý. Giáo sư Gottlieb Sӧhngen ở Munich của ngài đã viết: “Trong thần học của một nhà tư tưởng lớn, nội dung và hình thức của tư tưởng thần học tương tác qua về với nhau để tạo nên một thực thể mới.” Các lớp học của ngài ở giảng đường đông nghẹt. Hàng ngàn bản chép tay của các sinh viên được sao chép truyền tay cho nhau. Tác phẩm Đức tin kitô hôm qua và ngày nay đã làm cho Karol Wojtyla ở Krakow chú ý; ở Paris thì Viện Hàn lâm khoa học luân lý và chính trị để ý, đây là một trong các Viện Hàn lâm của Pháp mà sau này ngài sẽ tham dự vào Viện Hàn lâm này. Ratzinger vừa mới ba mươi lăm tuổi khi Công đồng Vatican II khai mạc, Công đồng đã đưa Giáo hội vào kỷ nguyên hiện đại. Riêng Đức Gioan XXIII đã nói với tấm lòng biết ơn, không ai có thể diễn tả tốt hơn ý muốn theo đuổi sáng kiến Công đồng Vatican II cho bằng nhà thần học ‘vị thành niên’ này.

Trong khi các nhà thần học ăn mừng cho sự tiến bộ của mình thích ứng với nội dung của các tư tưởng trưởng giả thấp và chung chung chỉ phục vụ cho trào lưu tư tưởng đang thống trị thì Ratzinger đến làm ‘phiền’: là giáo sư, là giám mục địa phận Munich, là bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin, một địa vị buộc phải đứng sau lưng Đức Gioan-Phaolô II trong vòng một phần tư thế kỷ, cha gánh hết các việc. Ngài tuyên bố: “Trong giây phút lịch sử này, vấn đề đích thực là Chúa đã biến mất khỏi chân trời của con người.” Trong khi “ánh sáng đến từ Chúa đã bị tắt thì nhân loại đau khổ vì không còn các điểm tựa, mà các hậu quả hủy hoại thì càng ngày càng thể hiện một cách hiển nhiên.”

Giáo hội không ở ngoài các chỉ trích của ngài. Từ năm 1958, ngài chủ trương “giải toàn bộ hóa”, một sự cần thiết cho các lực mạnh mẽ của đức tin được nói lên lại. Ngài giải thích, phải giữ thái độ cự lại, phải giữ thái độ không thích ứng để chứng tỏ một cách rõ ràng, kitô giáo là người mang một khái niệm về thế giới, với sự mạc khải của đời sống vĩnh cửu, không có gì là chung với thái độ thuần túy thế tục, theo chủ nghĩa vật chất. Sẽ ngây ngô khi nghĩ rằng, chỉ cần thay bộ áo, nói ngôn ngữ mọi người nói để bỗng nhiên, tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết. Điều thiết yếu là tìm một con đường cho một sự tuyên xưng đích thực, một nghi thúc phụng vụ sáng ngời để soi sáng lại huyền nhiệm của việc dâng thánh lễ.

Sự cáo buộc ngài đưa ra nhân ngày đi đàng thánh giá ở Rôma tháng 3 năm 2005 vẫn còn ở trong tâm tưởng nhiều người. Ngài phải gào lên: “Những vết nhơ trong Giáo hội, đặc biệt ở những người trong hàng chức thánh phải hoàn toàn thuộc về họ!”

Vị hồng y già trở thành một loại cột trụ mà không còn ai muốn dựa vào. Chính bản thân Ratzinger  cũng muốn về hưu. Tuy vậy chỉ vài ngày sau lời nói của ngài vào ngày Thứ sáu Tuần thánh, ngài xuất hiện ở ban công Đền thờ Thánh Phêrô. Đức Giáo hoàng thứ 265 kể từ Thánh Phêrô được đám đông hân hoan chúc tụng. Ngài là “giáo hoàng nhỏ bé”, một “người thợ trong vườn nho của Chúa”, người kế vị giáo hoàng lớn Karol Wojtyla: và chính ngày này, trước 1.2 tỷ người công giáo trên toàn cầu, ngài ý thức trọn vẹn việc từ nhiệm của mình.

Phải biết rõ ràng, các vấn đề đích thực của Giáo hội không ở trong sự suy yếu của nó nhưng ở trong sự khô héo của đức tin. Chính sự dập tắt lương tâm kitô giáo là nguồn gốc của cơn khủng hoảng, của sự nguội lạnh trong cầu nguyện, trong thánh lễ, của sự không còn quan tâm đến sứ mệnh của Giáo hội. Đối với ngài, cải cách đích thực phải ở trong việc làm mới lại bên trong, phải làm tâm hồn nóng lên. Dưới mắt ngài, ưu tiên tuyệt đối là tuyên xưng những gì chúng ta có thể biết và tin về một sự hiểu biết bảo đảm về Chúa Kitô. Phải “giữ Lời Chúa trong sự cao cả và tinh tuyền chống lại tất cả mọi toan tính để làm thích nghi và làm nghèo đi.”

Trong nhiều năm, triều giáo hoàng của ngài là một bài ca chiến thắng liên tục. Chưa bao giờ có đông người đến dự các buổi tiếp kiến của giáo hoàng như vậy. Chưa bao giờ các thông điệp của Đức Bênêđictô XVI, Thiên Chúa là tình yêu, Niềm Hy vọng Cứu rỗi và Bác ái trong chân lý (Deus caritas est, Spe salvi et Caritas in veritate), có số lượng in lớn như vậy. Từ lâu các sách của ngài đã là các tác phẩm quy chiếu, nhưng bây giờ các bài diễn văn của ngài ở trang đầu các báo quốc tế. Sự thành công trong việc chuyển tiếp nhẹ nhàng và cảm động từ triều Đức Wojtyla đã là một thành công. Nhưng người đã ở tuổi bảy mươi tám này không những đã góp phần vào nội dung của Công đồng Vatican II, ngài còn là người đã mơ có một công đồng như vậy. Thanh đạm, đối thoại, tập trung, đó là những nét của một phong cách mới ở Vatican. Chi phí về phụng vụ được giảm, các buổi họp hội đồng giám mục được thu ngắn và biến thành những cuộc thảo luận trong tinh thần đồng đội.

Đức Bênêđictô XVI âm thầm làm việc, ngài tiếp tục làm những chuyện vị tiền nhiệm của mình để lại. Ngài từ chối mọi nghi thức chung quanh chức vụ của mình. Một cách kín đáo, ngài bỏ thông lệ hôn tay, ngài thay mũ ba tầng bằng chiếc mũ đơn giản. Vì tôn trọng truyền thống, ngài còn giữ một vài thói quen nhưng thật sự đó không phải sở thích của ngài. Ngài không phải là người chủ, ngài chỉ là hình ảnh của một sự tôn kính trong Giáo hội, ngài không để mình lên đàng trước. Ngài chỉ là đại diện của một người khác, người duy nhất phải yêu, người duy nhất phải tin, đó là Chúa Giêsu Kitô, lời của Thiên Chúa làm người.

Sau Đức Gioan-Phaolô II, Đức Bênêđictô XVI là giáo hoàng thứ nhì ngõ lời ở một nguyện đường hồi giáo. Nhưng Đức Bênêđictô XVI là người đầu tiên tham dự vào một nghi thức phụng vụ tin lành. Cuộc viếng thăm của người đứng đầu Giáo hội công giáo ở một nơi thuộc giáo phái Luther là một hành vi lịch sử chưa từng có. Cũng là một sáng kiến đầu tiên của ngài, ngài đề cử một tín hữu tin lành vào ban điều hành Giáo hoàng học viện Khoa học, mời một người hồi giáo làm giáo sư ở đại học giáo hoàng. Song song vào đó, với sức mạnh về mặt tri thức và thần học của ngài, ngài đã đưa triều giáo hoàng của mình lên một tầm mức làm cho Giáo hội công giáo có sức hấp dẫn với cả những người cho đến lúc này vẫn còn ở bên ngoài. Nhất là nhờ ba chủ đề hàng năm với nội dung rất mạnh, Năm Thánh Phaolô, Năm các linh mục và Năm đức tin. Qua tự sắc Nghi lễ Phụng tự (Summorum Pontificum), ngài cho phép các linh mục có thể dâng thánh lễ theo nghi thức ‘tridentin’ mà không cần có phép của giám mục trước, đây là một hành vi cởi mở, phóng khoáng, một việc không đi lui lại được.

Đức Bênêđictô XVI không phải chỉ gặt hái các thành công. Một cách không chối cãi, triều giáo hoàng này đã không tận lực hết tất cả tiềm năng mà con người của giáo hoàng này có thể cống hiến. Rất nhiều lần, thái độ của các giám mục và một vài phân bộ trong guồng máy giáo triều đã cho thấy một sự gạt ra. Hay ít nhất là sự thiếu hỗ trợ. Đức Bênêđictô XVI khiêm tốn chấp nhận. Ngay cả ngài bao dung cho các việc phản bội theo hình ảnh Thiên Chúa của mình. Vậy, ngài có phải là một giáo hoàng yếu như những người chống đối ngài mô tả không, triều giáo hoàng của ngài có thật sự là một chuỗi những vụ bê bối không?

Ratzinger luôn ở trong tầm ngắm liên tục của vô số bài báo và các cuộc tấn công trên truyền thông. Ngài bình thản chấp nhận. Ngài phản bác lại: “Nếu một giáo hoàng chỉ có sự đồng thuận thì phải tự hỏi xem đã có một cái gì đó không đúng.” Trên thực tế, các chỉ trích không ngừng này, mà ngài là mục tiêu, thuộc các cơ quan lớn báo chí, họ chỉ tìm cách áp đặt ý kiến riêng của mình, và đó là một trong những gánh nặng lớn của triều giáo hoàng của ngài. Bất kể từ quan điểm này, các cáo buộc này có chứng thực hay không.

Chỉ nêu ra những chuyện “bê bối” được nhắc đi nhắc lại nhiều nhất:

Bây giờ người ta vẫn còn nghe, Đức Giáo hoàng “đã tái hội nhập một người tiêu cực vào Giáo hội công giáo”, giám mục Richard Williamson, thành viên của hội Huynh đệ Thánh Piô X. Thật ra, việc loan báo được làm vào tháng 1 năm 2009, một bước ngoặc trong sự phán đoán, cho tới lúc đó được xem là cực kỳ tích cực mà ý kiến quần chúng đánh giá về việc làm của Đức Giáo hoàng. Nhưng sự diễn giải các sự kiện thì hoàn toàn sai lầm: Williamson không phải là người công giáo, và hội Huynh đệ không có quy chế trong giáo luật, như vậy không phải là tái hội nhập. Chủ đề xích lại gần giữa người do thái và công giáo cũng là một trong những quan tâm chính của Đức Ratzinger. Ông Israel Singer, tổng thư ký Hội đồng Do thái thế giới từ năm 2001 đến 2007 tuyên bố, “không có ngài, bước ngoặc lịch sử trong quan hệ của Giáo hội công giáo và Do Thái giáo từ hai ngàn năm nay sẽ không thể thực hiện được”. Ông Maram Stern, phó giám đốc Hội đồng Do Thái tóm tắt, “dưới thời Đức Bênêđictô XVI, quan hệ này trở nên tốt nhất “chưa từng có trong lịch sử”.

Tuy nhiên phải nhận thấy có một số lớn các cẩu thả và lỗi lầm, nhất là về phần các người có quyền trong các giáo hội ở nhiều nước trên thế giới, trong vụ lạm dụng tình dục do các linh mục hay các tu sĩ đã phạm trên các trẻ vị thành niên. Nhưng cũng từ lâu người ta đã nghĩ, nếu không có Đức Bênêđictô XVI thì cơn khủng hoảng này, một trong những cơn khủng hoảng trầm trọng nhất của lịch sử Giáo hội công giáo sẽ có những tác hại còn tệ hơn nữa. Ngay khi làm bộ trưởng, Đức Ratzinger đã cho áp dụng các biện pháp điều tra kỹ các trường hợp này và phạt những người phạm tội. Khi làm giáo hoàng, ngài đã sa thải bốn trăm linh mục và ấn định luật giáo hội để có thể kiện các giám mục, các hồng y muốn che giấu các vụ này.

Còn các vụ Vatileaks? Cũng không được coi nhẹ các vụ này. Các sự kiện là những dấu chỉ cho thấy sự loạn đáng tiếc ở các cấp độ điều hành Giáo hội hoàn vũ. Nhưng thật ra, cái gọi là “mưu phản Vatican” chỉ là một vụ ăn cắp tài liệu của một quản gia bệnh hoạn. Còn về ngân hàng Vatican IOR, Đức Bênêđictô XVI đã đòi hỏi một cuộc kiểm toán sâu rộng và tái tổ chức ngân hàng này. Ngài đã mở rộng cuộc điều tra ở tất cả các lãnh vực liên hệ. Biên bản của ủy ban chưa được công bố, nhưng các kết luận thì rõ ràng ít nguy kịch hơn như người ta tưởng.

Các người ủng hộ Đức Bênêđictô XVI có nhiều lý do để họ tiếc ngài: các bài phát biểu của ngài quá thông minh, khả năng làm tươi mới lý tính và khả năng làm sưởi ấm tâm hồn; ngôn ngữ phong phú; phân tích ngay thẳng; lòng kiên nhẫn vô cùng, với tính kiên nhẫn này ngài biết lắng nghe người khác; biết nâng cao, ngài có khả năng này như một số ít người trong Giáo hội. Và đương nhiên ngài còn có nụ cười rụt rè, dáng đi đôi khi hơi vụng về giống như danh hài Charlie Chaplin khi ngài lên bục nói. Và nhất là điều cực kỳ quan trọng, ngài gắn bó với lý tính, bảo đảm cho đức tin, giữ cho kitô giáo khỏi mọi lệch lạc, mọi hoang tưởng hay cuồng tín. Cuối cùng, là tính hiện đại của ngài mà nhiều người không biết hoặc không muốn biết. Ngài vẫn trung thành trong cách ngài hoàn tựu các hành động mà không một ai trước ngài đã làm.

Dù cho số lượng rất nhiều các bài viết, bài giảng, bài suy niệm, bài trao đổi – vẫn còn 30 000 thư thủ bút của ngài trước khi ngài làm giám mục -, Joseph Ratzinger chưa bao giờ đề cập đến học thuyết riêng. Trong công việc thần học của mình, ngài dùng lại những gì đã có sẵn, trích từ đó điều cốt tủy, tái thu xếp lại để đặt nó vào trong bối cảnh của thời gian và cho nó một cách diễn tả mới – để giữ lại sứ điệp Phúc Âm và sự hiểu biết kitô giáo cho các thế hệ sau. Làm như vậy, tầm quan trọng mà ngài dành cho Giáo hội, giúp chúng ta hiểu cuộc đấu tranh ngài đã làm cho Giáo hội – để Giáo hội là con tàu cứu rỗi, là vòm ông Nôê, để truyền lại cho một thế giới tốt hơn. Ngài gọi đó là “căn gốc cánh chung học của cách mạng kitô giáo”.

Tác phẩm gồm ba tập về Chúa Kitô của ngài đủ để làm cho triều giáo hoàng của ngài là duy nhất. Đức Bênêđictô XVI đã cống hiến một cẩm nang không tránh vào đâu được cho tương lai của thần học, của giáo lý, của việc đào tạo các linh mục, ngắn gọn, cho nền tảng giáo điều đức tin cho thiên niên kỷ thứ ba. Đây không phải là ghế giáo sư ở một đại học, nhưng là ghế của Thánh Phêroô mà cái vòng có thể khép lại. Không một ai khác có thể có văn hóa, có tiền sự, có sức mạnh và có cảm nghiện thiết yếu để thiết dựng một cách mỉ khoa học và một cách thực tế huyền nhiệm hình ảnh Chúa Giêsu, một hình ảnh bị trầy trụa không còn nhận ra, để làm cho hình ảnh này trở nên nhân bản.

Nhà sử gia người Anh Peter Watson xếp Đức Bênêđictô XVI đứng bên cạnh Lessing, Kant và Beethoven, những người cuối cùng đại diện cho “thiên tài nước Đức”. Còn đối với văn hào Giải Nobel văn chương người Peru, Mario Vargas Llosa, thì Đức Bênêđictô XVI là một trong các nhà trí thức lớn của thời buổi chúng ta, mà các “suy tư mới và táo bạo” của ngài đáp ứng cho các vấn đề đạo đức, văn hóa và hiện sinh của thời đại này. Về lâu về dài, lịch sử sẽ xét chỗ đứng mà lịch sử sẽ dành cho ngài. Nhưng một điều đã chắc: không ai trong một thời gian dài, hơn ba mươi năm, đã giữ các chức vụ ở cấp cao, đứng đầu một thể chế xưa cổ nhất, lớn nhất thế giới. Qua các đóng góp của ngài cho Công đồng Vatican II, mang lại sinh khí cho giáo điều, thanh tẩy và củng cố Giáo hội, không những ngài làm mới lại đức tin, mà qua tác phẩm của thần học gia Tòa Thánh, ngài cũng đã là tiến sĩ cuối cùng của Giáo hội thời hiện đại. Hành vi lịch sử từ nhiệm của ngài đã biến đổi tận căn chức vụ của ngai Thánh Phêrô. Ngài đã trả lại chiều kích thiêng liêng cho các nguồn gốc của nó.

Sự ra đi của Đức Bênêđictô XVI kết thúc một thời, có thể là một kỷ nguyên, một trong những thời điểm này là bước ngoặc lớn của lịch sử trong việc kế thừa hàng ngàn năm này. Tám năm triều giáo hoàng của ngài như các bài tập thiêng liêng mà Giáo hội cần để củng cố sức mạnh nội tâm và củng cố tâm hồn mình. Trong nghĩa này, giáo hoàng cuối cùng của một thời đang đi xuống đã xây cây cầu giúp cho sự lên ngôi của một kỷ nguyên mới – dù cho kỷ nguyên này sẽ có khía cạnh nào. Đức Bênêđictô XVI, như vị kế nhiệm của ngài tóm, là “một giáo hoàng lớn”: “Lớn vì sức mạnh và sự thấm nhập của trí thông minh của ngài, lớn vì sự đóng góp chủ yếu của ngài về thần học, lớn vì tình yêu của ngài đối với Giáo hội và đối với con người, lớn vì đức hạnh và lòng mộ đạo của ngài”. Đức Phanxicô đã tuyên bố: “Tinh thần này không thể nào phân rã với thời gian, nó luôn xuất hiện ngày càng lớn càng mạnh, từ thế hệ này qua thế hệ khác.”

Các bài nói chuyện này được thực hiện trước và sau khi ngài nghỉ hưu, trong mục đích chuẩn bị một quyển tiểu sử và đưa ra hình ảnh cuối cùng của một trong các nhân vật kỳ diệu nhất của thời chúng ta. Đức Giáo hoàng danh dự Bênêđictô XVI đã đồng ý xuất bản các buổi nói chuyện này. Để quyển sách được góp phần một cách khiêm tốn sửa chữa các ý tưởng sai lầm, mang ánh sáng vào bóng tối nhất là về các bối cảnh trong việc ngài từ nhiệm đã cắt đứt hơi thở của toàn thế giới. Và để hiểu rõ ràng hơn con người Joseph Ratzinger, mục tử Bênêđictô XVI, vinh danh sự thánh thiện và nhất là duy trì việc tiếp cận tác phẩm của ngài, một di sản cho tương lai.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

dernieres-conversations-de-benoit-xvi